Trước khi quyết định ban hành một văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan có thẩm quyền ban hành cần phải trả lời được một loạt câu hỏi: Văn bản ra đời sẽ giải quyết được vấn đề gì? Nếu giải quyết vấn đề đó thì nguồn kinh phí, nhân lực sẽ phải đầu tư vào bao nhiêu? Kinh phí được lấy từ nguồn nào? Các quy định trong văn bản vừa được ban hành có hợp pháp, có mâu thuẫn với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành không? Nếu có mâu thuẫn, thì hướng giải quyết thế nào? Các đối tượng trực tiếp thi hành có sẵn sàng thực hiện văn bản quy phạm pháp luật không (có đủ khả năng về tài chính, về thời gian, về sự hiểu biết hay không)?
Những câu hỏi nêu trên chính là nội dung đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và đây phải được coi là nhiệm vụ bắt buộc.
Đánh giá dự báo tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là: Đánh giá tác động tiềm năng của một thay đổi về chính sách và đưa ra phương án thay thế (ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới hoặcphương án sửa đổi, bổ sung văn bản đang hiện hành). Việc đánh giá tác động tiềm năng ấy nên tập trung chủ yếu vào: Tác động tiềm năng xã hội, môi trường, tài chính, kinh tế; Tác động đến hệ thống văn bản pháp luật ; Tác động đến sự phân bổ tác động đối với các nhóm chủ thể trong xã hội (người tiêu dùng, doanh nghiệp, nhân viên, nông thôn, đô thị, tôn giáo...). Việc đánh giá dự báo tác động của dự thảo giúp cơ quan có thẩm quyền có cái nhìn tổng thể, toàn diện về vấn đề sẽ được giải quyết trong văn bản, trong đó bao gồm những đánh giá mặt được và mặt hạn chế của phương án đưa ra; Từ đó tìm ra hướng giải quyết để thực thi văn bản quy phạm pháp luật.
Rất nhiều các quốc gia trên thế giới đều coi đánh giá dự báo tác động là nhiệm vụ bắt buộc trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. Các cơ quan có thẩm quyền chỉ xem xét dự thảo, nếu trong hồ sơ có bản đánh giá dự báo tác động. Song phải khẳng định rằng, cho đến thời điểm hiện nay, nhiệm vụ đánh giá dự báo tác động của của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ở ta chưa được nhìn nhận và đánh giá theo đúng tầm quan trọng của nó. Pháp luật hiện hành chưa quy định trách nhiệm của cơ quan soạn thảo khi trình cơ quan có thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, phải trình kèm bản đánh giá dự báo tác động. Do đó đã kéo theo hậu quả là hàng loạt văn bản được ban hành, nhưng thiếu tính khả thi, không đạt được mục đích đặt ra, hoặc các biện pháp lựa chọn không phù hợp, quá tốn kém. Trên thực tế mới có 2 dự thảo được đánh giá dự báo tác động, đó là Dự thảo Luật Đầu tư và Dự thảo Luật Doanh nghiệp nhưng với sự hỗ trợ về kinh phí và hỗ trợ về kỹ thuật của các tổ chức nước ngoài.
Đối với những dự thảo đã có sự thống nhất cao giữa cơ quan trình với cơ quan thẩm tra, thì UBTVQH không cần thiết phải xem xét, cho ý kiến về nữa, mà căn cứ vào nội dung báo cáo thẩm tra của cơ quan thẩm tra và hồ sơ trình dự thảo luật, ý kiến góp ý của ĐBQH, UBTVQH sẽ dự kiến chương trình thảo luận, thông qua dự thảo tại một kỳ họp để QH quyết định. Chỉ trong trường hợp dự thảo còn phức tạp, nhiều ý kiến khác nhau thì UBTVQH mới cho ý kiến và tiến hành thảo luận, thông qua tại 2 kỳ họp.
Việc nghiên cứu sửa đổi đồng thời một lúc nhiều văn bản cần tuân thủ các bước tối thiểu của quy trình lập pháp, lập quy mà vẫn bảo đảm đúng chức năng, thẩm quyền của các cơ quan. Đồng thời khắc phục được sự mâu thuẫn của hệ thống pháp luật, khắc phục được sự lãng phí về thời gian nghiên cứu, thời gian tổ chức soạn thảo, thời gian thông qua văn bản cũng như tiết kiệm kinh phí nghiên cứu, soạn thảo, ban hành văn bản.
Một trong những kết quả của việc áp dụng quy trình ban hành một luật chung để sửa nhiều luật sẽ có tác dụng “quét” tất cả các đạo luật, pháp lệnh cần sửa đổi, bổ sung còn lại; Hoặc thậm chí có thể điều chỉnh cả trong luật này những quy định đã được sửa đổi trước đó, nhưng lại chưa phù hợp với các cam kết mới phát sinh. Về mặt chính trị, việc xây dựng và ban hành một đạo luật sửa nhiều luật để thi hành các nghĩa vụ gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng rất hữu ích trong việc thúc đẩy quá trình đàm phán song phương và đa phương, đặc biệt đối với các đối tác thương mại lớn như Hoa Kỳ. Bởi nó thể hiện sự cam kết rõ rệt của Việt nam trong việc thực hiện đồng bộ, “trọn gói” các nghĩa vụ gia nhập WTO.
Có thể thấy rằng, trong bối cảnh nướcc ta ngày càng tham gia sâu hơn vào tiến trình hội nhập quốc tế, trong đó có việc trở thành thành viên của các Hiệp định song phương hoặc đa phương, kỹ thuật lập pháp “luật sửa nhiều luật” là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam phù hợp với các cam kết quốc tế. Về mặt chủ trương, Nhà nước ta đã thể hiện quan điểm khá rõ ràng trong việc áp dụng kỹ thuật luật sửa nhiều luật nhằm đẩy nhanh quá trình gia nhập WTO. Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc áp dụng kỹ thuật này, vấn đề “luật sửa nhiều luật” cần thiết được điều chỉnh trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Ts Nguyễn Thị Kim Thoa
|
Nếu đánh giá dự báo tác động của dự thảo văn bản pháp luật tốt sẽ giảm bớt rủi ro các lỗi về chính sách. Vì cơ các cơ quan có thẩm quyền đã: Xác định được mục tiêu của việc ban hành; Xác định và đánh giá các phương án lựa chọn nhằm đạt được mục tiêu ; Bảo đảm tính hài hoà, thống nhất với các phương án đang sử dụng ; Biết trước là lợi ích có lớn hơn chi phí hay không ; Bảo đảm quá trình xây dựng chính sách đã và phải có sự tham gia của người dân; Bảo đảm tính minh bạch của việc xây dựng chính sác; Tính đến việc bảo đảm tuân thủ các thoả thuận quốc tế.
_________________
Để bảo đảm tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật, nên có quy định: Bộ Tài chính có trách nhiệm góp ý về nguồn tài chính dự kiến, Bộ Nội vụ có trách nhiệm góp ý về nguồn nhân lực dự kiến nhằm bảo đảm tính khả thi sau khi văn bản được ban hành. Thực tế cho thấy, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính là những cơ quan có vai trò rất quan trọng trong việc thực thi luật, pháp lệnh. Vì hầu hết các văn bản đều cần đến nguồn tài chính, nguồn nhân lực bảo đảm thi hành. |