Điều này có thể đúng nếu nhìn dưới góc độ doanh số tổng mức bán lẻ nửa năm đầu đã tăng khoảng 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng mức bán lẻ tăng mạnh cho thấy tiêu dùng đã tăng trưởng khá, là một trong những mục tiêu mà gói kích cầu nhằm đến.
Nhưng xét kỹ thì có thể thấy nhiều điều bất ổn xung quanh con số này. Sản xuất công nghiệp trong nửa năm đầu chỉ tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, thấp xa so với mức tăng của tổng doanh thu bán lẻ. Trong khi đó nhập siêu đã quay trở lại trong quý II và tăng liên tục qua từng tháng với mức tổng cộng trong 6 tháng lên tới 2,1 tỷ đôla. Mức nhập siêu còn lớn hơn thế nhiều nếu loại bỏ phần doanh thu từ xuất khẩu vàng và đá quý hơn 2 tỷ đôla trong quý I. Sản xuất tăng trưởng thấp hơn nhiều so với mức bán lẻ trong bối cảnh nhập khẩu tăng vọt gợi ý rằng một phần lớn nhu cầu trong nước (chỉ xét riêng phần tăng lên nhờ gói kích cầu) đã được thỏa mãn nhờ nhập khẩu chứ không phải nhờ nguồn cung trong nước. Nói cách khác là một phần lớn trong gói kích cầu đã “vỗ béo” các doanh nghiệp sản xuất nước ngoài chứ không phải doanh nghiệp trong nước.
Vấn đề không chỉ dừng lại ở chuyện “vỗ béo” doanh nghiệp nước ngoài, mà còn chỉ ra một thiếu sót lớn trong chính sách vĩ mô của Việt Nam. Xét trường hợp của Trung Quốc và Mỹ, hai nước đã tung ra những gói kích cầu khổng lồ. Đồng thời với động thái này là động thái bảo hộ hàng nội địa, với yêu cầu các dự án công có sử dụng vốn kích cầu phải mua sắm nguyên vật liệu đầu vào là hàng trong nước sản xuất. Tuy động thái này vấp phải sự phản đối của một số nước nhưng rốt cuộc, với biện minh rằng những hoàn cảnh đặc biệt đòi hỏi những giải pháp đặc biệt, họ vẫn tiến hành theo ý đồ và rồi cũng chẳng ai có ý định ngăn cản vì người ta thừa hiểu rằng nếu không được như thế thì chẳng Chính phủ nào dại gì làm giàu cho quốc giá hàng xóm.
Đương nhiên, cũng có những Chính phủ không thực thi hành động bảo hộ tương tự như vậy, nhưng điều đó có thể là do họ thấy không cần thiết hoặc không đáng để làm vậy, vì, chẳng hạn, hàng hóa nội địa của họ có sức cạnh tranh lớn hơn hàng ngoại nhập, đặc biệt trong bối cảnh suy thoái, hàng nội địa thi nhau giảm giá, càng trở nên hấp dẫn hơn. Điều này tất nhiên không đúng với trường hợp Việt Nam, và thực tế cho thấy chúng ta đã quá thiếu sót, yếu kém trong việc hướng luồng cầu gia tăng vào thị trường nội địa bằng các biện pháp cưỡng bức nào đó có tác dụng tương tự như của Mỹ và Trung Quốc đang thực hiện.
Tuy vậy, cũng phải nhìn nhận công bằng rằng sản xuất trong nước không tăng mạnh còn có thể do một phần là các doanh nghiệp trong nước phải lo tiêu thụ hết số hàng tồn kho đã “trót” sản xuất hoặc tích lũy (đầu cơ) quá nhiều trước đó, khi thị trường hàng hóa đang lên cơn nóng sốt đến đỉnh điểm. Dẫu đúng vậy thì điều này lại chỉ ra một khả năng xấu khác. Đó là cho nếu tiêu dùng có tiếp tục tăng trong những tháng tới thì các nhà sản xuất chỉ có thể thực sự bắt tay vào đẩy mạnh sản xuất để thỏa mãn thị trường khi lượng hàng tồn kho đã tiêu thụ hết hoặc giảm xuống dưới mức tối thiểu cần thiết. Vì sản xuất chỉ thực sự tăng tương đối vào một hai tháng gần đây nên có thể nhận định rằng hàng tồn kho đã giảm đáng kể và các nhà sản xuất có lẽ mới đang bắt đầu thực sự mở rộng sản xuất trong thời gian này và sắp tới. Trong khi đó, xu hướng tăng tổng cầu có khả năng sẽ bị chững lại trong thời gian mấy tháng tới do lượng tín dụng dành cho chương trình hỗ trợ lãi suất vay trong gói kích cầu (khoảng 420 nghìn tỷ) đã sắp giải ngân hết. Quan trọng hơn, áp lực lạm phát đăng tăng lên buộc Chính phủ phải thận trọng hơn trong việc bơm tiền ra hay thực hiện thêm các biện pháp chi tiêu để kích cầu khác (tăng thâm hụt ngân sách) trong nửa năm cuối của 2009. Dư luận cũng lên tiếng đòi hỏi đã đến lúc Chính phủ chấm dứt gói kích cầu vì lý do để thực hiện kích cầu (nhằm làm tiêu dùng tăng lên và giá cả phục hồi – tức là không bị rơi vào tình trạng thiểu phát và đình trệ) đã không còn nữa. Nếu như vậy thì sắp tới các doanh nghiệp sản xuất nội địa sẽ phải đối mặt với nguy cơ dư thừa mạnh cung so với cầu trong bối cảnh cung tăng nhanh chóng vì các nhà sản xuất đồng loạt quay lại mở rộng sản xuất, còn cung thì co hẹp đáng kể. Nói cách khác, lại một lần nữa Việt Nam tự mình đánh mất cơ hội làm lợi từ chính những đồng tiền của mình bỏ ra.
Nếu nhớ lại mới cách đây không lâu, ở Việt Nam còn thường xuyên nghe thấy những phát biểu đại loại lạm phát chỉ được bằng hoặc thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP. Cũng chỉ không lâu trước đây, mức lạm phát 5% - 7%/năm còn được coi là cao và người ta hô hào tìm cách giảm nó xuống hơn nữa. Vậy mà gần đây hầu như ai cũng coi việc kiềm chế lạm phát ở mức 8% - 9% là một thành công và mức lạm phát đó là không có vấn đề gì xấu cả.
Để tránh lạc đề, bài viết này xin dừng lại ở kết luận rằng giá cả tăng trong phần lớn trường hợp là điều không tốt, không mong muốn đối với cả một quốc gia. Điều này càng đúng với hoàn cảnh của Việt Nam như hiện tại. Lạm phát ở Việt Nam luôn phải được coi là một tín hiệu cảnh báo những bất ổn chứ không phải ngược lại. Nếu không sớm xử lý thì lạm phát luôn có nguy cơ thoát khỏi vòng kiểm soát để hoành hành trong nền kinh tế.