
1.Tư tưởng và đạo đức
Học tập đạo đức mà lại bàn về tư tưởng vì, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội. Mọi hình thái ý thức đều có hình thức diễn đạt đặc thù, với chính trị, chủ yếu được diễn đạt bằng lập trường, với tôn giáo chủ yếu được diễn đạt bằng lòng tin, nghệ thuật bằng hình tượng, triết học bằng tư tưởng và đạo đức là bằng chuẩn mực. Đạo đức học, khoa học nghiên cứu về đạo đức gắn bó mật thiết với ý thức xã hội. Đó là khoa học về thế giới quan, có thể xem đạo đức học là một bộ phận của triết học. Vì thế, những nội dung khái quát của đạo đức được xác lập trên bình diện triết học. Và chỉ con người mới có đạo đức, con vật không có, đạo đức là đặc trưng bản tính con người, biểu hiện những đặc trưng của tính người. Trước hết, là tính tự nguyện, tự giác thể hiện trong động cơ của hành động. Động cơ ấy, một mặt bao hàm sự tự giác nhận thức về mục đích của hành động, mặt khác là ý thức về giá trị của hành động ấy. Theo quan điểm của C. Mác được trình bày trong “Bản thảo Kinh tế-Triết học 1844”, tính người được biểu hiện trước hết ở chỗ có sự quan tâm đến người khác. Chỉ trong quan hệ với người khác, thì con người mới hiểu được về quan hệ với chính mình với tính cách là con người. Trên cơ sở đó mà C.Mác nói về quan hệ xã hội: "Xã hội-cho dù nó có hình thức gì đi nữa- là cái gì? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người. Liệu con người có được tự do trong việc lựa chọn hình thức xã hội này hay hình thức xã hội khác hay không? Tuyệt đối là không!".
Nói đạo đức là một hình thái ý thức xã hội còn là vì cái lẽ đó. Cho nên, nói đạo đức Hồ Chí Minh, trước hết và cuối cùng là phải nói về tư tưởng Hồ Chí Minh. Nói đạo đức tách rời tư tưởng sẽ rơi vào tình trạng mà C.Mác đã từng mượn lời của Phuriê phê phán đạo đức tôn giáo để nói về sự nguy hại của sự tách rời đó: “đạo đức là sự bất lực đưa ra hành động”. Là một hình thái ý thức xã hội, tư tưởng đạo đức là sự phản ánh đó trên bình diện tư duy lý luận, còn đạo đức là tổng hòa của những hành vi ứng xử của con người thể hiện tư tưởng đó trong đời sống hàng ngày. Muốn học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh phải quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh. Trình bày thêm về tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền trên tờ báo của Quốc hội cũng là trên cái lẽ đó.
Chỉ có thể có một Quốc hội mạnh, đảm đương được chức năng là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” như Điều 83 của Hiến Pháp (1992) quy định, cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền thể hiện trong Hiến pháp 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban soạn thảo.
2. Người đặt nền móng xây dựng “Nhà nước pháp quyền” ở Việt Nam
“ Có sự nhạy cảm đặc biệt đối với lịch sử, thấu hiểu cuộc sống của con người, có nhận thức sâu về vận mệnh dân tộc, về hướng đi của thời đại”, Hồ Chí Minh hiểu rõ mục tiêu của từng chặng đường trên con đường dẫn đến lý tưởng đúc kết khát vọng của cả loài người “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” mà “Tuyên ngôn của đảng Cộng sản” thế kỷ XIX đã nêu lên.
Người không lẫn lộn mục tiêu cụ thể và trực tiếp của từng chặng với cái đích ở phía chân trời để tránh đi những ảo tưởng duy ý chí, dẫn đến hành động nôn nóng “đốt cháy giai đoạn”, gây hậu quả ngược lại với mục tiêu. Xác định được như vậy vì, Hồ Chí Minh “có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn” , Người đòi hỏi “không được sao chép nguyên văn những gì có sẵn, điều cốt yếu là hiểu đúng tinh thần và biết vận dụng các nguyên lý sát với tình hình cụ thể” (1) nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Hồ Chí Minh đứng vượt hẳn lên những người đương thời ở tầm tư duy và cái nhìn biện chứng. Bôn ba khắp năm châu bốn biển, hiểu rõ ngọn ngành những tinh hoa cũng như những khiếm khuyết mà phong trào cách mạng đã trải qua, để khi về đến Tổ quốc, hôn nắm đất quê hương đang đói nghèo, đau khổ, Người hiểu rõ cần phải làm gì cho nhân dân mình. Tiếp nhận tinh hoa của nền văn minh phương Tây mà Người đã có nhiều năm chiêm nghiệm, học hỏi, để rồi gắn kết với bản lĩnh và tri thức cách mạng, Hồ Chí Minh thấy được những vấn đề mà có thể những người khác chưa thấy hoặc thấy chưa rõ.
Bằng chứng là, mãi gần 60 năm sau Tuyên ngôn Độc lập và Tổng tuyển cử 6.1.1946, lập ra Quốc hội đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ra đời Hiến pháp 1946, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền vẫn còn gặp không ít trở ngại do sự áp đặt máy móc và giáo điều của mô hình “chuyên chính vô sản” trong tư duy về nhà nước. Có thấm thía chuyện này mới hiểu sâu ý nghĩa của việc Hồ Chí Minh đặt viên gạch đầu tiên cho nền móng của một nhà nước pháp quyền.
3. Cơ sở xã hội của nhà nước
Cơ sở xã hội của nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Là dân tộc. Với Hồ Chí Minh, dân tộc không chỉ là địa bàn ứng dụng của lý tưởng cách mạng, mà dân tộc chính là chỗ xuất phát, mảnh đất màu mỡ và cội nguồn sáng tạo của lý tưởng cách mạng đó. Cơ sở xã hội mới của nhà nước ấy rất rộng lớn và không hề thay đổi phạm vi trong quá trình cách mạng. Đó là phạm vi các giai cấp và tầng lớp không thay đổi, chỉ tăng lên về chất lượng để thành một tập hợp mới mạnh mẽ hơn, bền chắc hơn của khối đại đoàn kết dân tộc. Trong đó, có thể có rơi rớt người này hoặc người khác, chứ không có chuyện loại bỏ tầng lớp này hoặc tầng lớp khác theo kiểu sử dụng “bạn đường” có thời hạn, để khi cần thì vứt bỏ. Trong tư tưởng và trong hành động, trong ứng xử với con người, với đồng bào mình của Hồ Chí Minh tuyệt đối không có chuyện đó.
Cứ nhìn lại những gương mặt trí thức và nhân sĩ nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không nề hà tuổi cao, sức yếu, không chút băn khoăn khi từ bỏ mọi tiện nghi của đời sống nơi đô hội phồn hoa hoặc cảnh sống sang trọng ở nước ngoài, vui vẻ chấp nhận gian khổ để tham gia kháng chiến, có thể hiểu được điều đó. Mới gần đây, nhà văn hóa Hữu Ngọc có chép lại một sự kiện thật cảm động in trong cuốn sách của một bậc túc nho, cụ Hồ Phi Huyền, mới xuất bản. Xin được dẫn ra đây: “Bữa cơm đãi khách thật đạm bạc mà ngon lành thanh khiết. Hồ Chủ tịch đón tiếp cụ Hồ Phi Huyền không đơn thuần như một vị nhân sĩ, mà còn là một bậc thân tri cố cựu… Mời cụ ra giúp nước, nhưng cụ biết mệnh phận không còn. Cụ phải thốt ra: “Quốc gia đa cố, các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Bùi Bằng Đoàn đều ra gánh vác việc nước với cụ Hồ, tôi thì mệnh tận”. Tuy mệnh tận nhưng tâm đăng sáng tỏ trước vận mệnh dân tộc. Ra gặp Bác Hồ, khi bái biệt,cụ còn thưa: “Xin Chủ tịch lưu tâm, thời mệnh trong thế cục này, chúng ta phải trải qua: Thiên đô bảo chủ quốc tồn, độn thổ trường kỳ kháng địch”. Sau đó cụ Hồ Phi Huyền trở về quê và mất ngày 25.12.1946. Lời tiên tri về bỏ Thủ đô và kháng chiến trường kỳ là đúng”. (2)
Vì cái lẽ “quốc gia đa cố” (đất nước nhiều hoạn nạn), các bậc nhân sĩ trí thức theo cái triết lý “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” phải ra gánh vác việc nước, nhưng nếu không có tầm nhìn và đức độ của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì không thể quy tụ được một lực lượng nhân sĩ, trí thức tiêu biểu như vậy. Đừng quên rằng, trong quan niệm “xuất xử” của người trí thức chân chính, không ít người thường chọn cách ứng xử của kẻ sĩ xưa kia, “dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng” để tạo cho mình một cách thế tự do, coi khinh quyền thế, không chịu uốn lưng trước cường quyền. Chẳng thế mà Mạnh Tử dạy học trò của mình: “Họ cậy tước của họ, ta cậy đức của ta. Ta có gì thua kém họ đâu” (Mạnh Tử. Công Tôn Sửu hạ). Am hiểu sâu sắc văn hóa và triết lý phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rõ về trí thức, hiểu rõ về vai trò của họ và biết cách ứng xử để phát huy được vai trò ấy trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước là nhất quán từ đầu cho suốt cả quá trình với cơ sở xã hội là dân tộc như vậy, phạm vi các giai cấp và tầng lớp không thay đổi mà chỉ được nâng lên về chất lượng để thành một dân tộc mạnh mẽ với trình độ mọi mặt được nâng cao dần lên. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, không hề có chuyện khi bước lên một giai đoạn cao hơn thì Nhà nước thu hẹp cơ sở xã hội ấy lại, gạt bỏ một số giai cấp và tầng lớp, không tầng lớp xã hội nàọ “nửa đường đứt gánh”, càng tuyệt đối không có chuyện “qua sông đắm đò”.
Vì thế, khẩu hiệu “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công” với Hồ Chí Minh không đơn thuần là một khẩu hiệu chính trị, mà là một tâm nguyện của Người. Tâm nguyện ấy được ấp ủ từ trong trái tim yêu nước và trí tuệ mẫn tiệp, đúc kết bài học lịch sử nước nhà, bài học của thế giới và bằng chính sự trải nghiệm của mình trên cả quá trình tìm đường cứu nước, có lúc phải gánh chịu sự phê phán nặng nề, thậm chí bị giam lỏng, kể cả nguy cơ bị ám hại vì kiên định lập trường yêu nước và con đường giải phóng dân tộc.