1. Công tác tham mưu, phục vụ điều hành
VPQH luôn luôn nỗ lực phấn đấu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thông qua việc triển khai phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành xây dựng chương rình làm việc của Quốc hội, UBTVQH, Đảng đoàn Quốc hội, VPQH; Tổng hợp, xây dựng các báo cáo; Phối hợp phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành các kỳ họp Quốc hội, phiên họp UBTVQH, các cuộc làm việc của lãnh đạo Quốc hội; Các chuyến thăm, làm việc của lãnh đạo Quốc hội tại các bộ, ngành trung ương và địa phương; Các cuộc họp của Hội đồng Dân tộc các Ủy ban, các cuộc họp ĐBQH chuyên trách đến các cuộc hội thảo, hội nghị khác. Việc biên tập, phát hành Bản tin hoạt động Quốc hội và xây dựng báo cáo hoạt động hàng tháng của VPQH đã góp phần tăng cường hiệu quả và sự phối hợp trong công tác phục vụ chỉ đạo, điều hành...
Công tác hành chính phục vụ điều hành ngày càng được quan tâm: Văn phòng đã tổ chức triển khai, tổng kết công tác hướng dẫn nghiệp vụ Pháp lệnh lưu trữ quốc gia; Tổ chức Hội nghị tổng kết công tác văn thư lưu trữ của cơ quan; Tham gia kiểm tra chéo nghiệp vụ văn thư, lưu trữ của các cơ quan trung ương. Việc tiếp nhận quản lý, cung cấp, vận chuyển công văn, tài liệu, bảo quản các loại con dấu của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các Ban của UBTVQH và VPQH được thực hiện nghiêm túc, chu đáo theo quy định của Nhà nước, không để xảy ra sai sót về nguyên tắc bảo mật. In ấn tài liệu đảm bảo nguyên tắc bảo mật, tuân thủ đúng quy trình quản lý; Thu hồi, chỉnh lý biên mục các tài liệu mật được tiến hành theo đúng quy định.
Văn phòng đã phối hợp với cơ quan hữu quan đảm bảo hoạt động thông suốt các máy điện thoại, các đường truyền Internet của cơ quan; Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả công tác hành chính, văn thư, lưu trữ.
2. Công tác xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ
Trong 5 năm qua Văn phòng đã xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nhiều văn bản về công tác này như: Quyết định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các vụ, đơn vị; Hướng dẫn công tác quy hoạch cán bộ; Quy chế tuyển dụng công chức, viên chức; Quy chế bổ nhiệm cán bộ, Quy chế đào tạo- bồi dưỡng cán bộ, công chức; Quy chế nâng lương trước thời hạn...
Văn phòng đã củng cố, tăng cường đội ngũ cán bộ quản lý thông qua việc lựa chọn và bổ nhiệm, bổ nhiệm lại theo đúng quy định và các văn bản hướng dẫn của cấp trên: từ năm 2002 đến hết 2006 Văn phòng đã bổ nhiệm được 03 cán bộ lãnh đạo Văn phòng; 79 cán bộ cấp Vụ; 66 cán bộ cấp phòng. Công tác tuyển dụng được tiến hành thận trọng, đảm bảo các yêu cầu về chính trị và chuyên môn. Việc chuẩn hóa và đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức được đặc biệt quan tâm: số lượng cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, kiến thức quản lý Nhà nước và chuyên môn, nghiệp vụ được nâng lên. Một số cán bộ, công chức được cử đi đào tạo và bảo vệ luận án tiến sỹ, được theo học chương trình sau đại học trong và ngoài nước: từ năm 2002 đến hết 2006 trong số 20 người làm luận án tiến sỹ đã có 10 người bảo vệ xong; Có 50 người học thạc sỹ trong nước và 12 người học thạc sỹ ở nước ngoài.
Công tác đảm bảo chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức, viên chức như chế độ lương, chế độ hưu trí, bảo hiểm, trợ cấp... được triển khai thường xuyên, đầy đủ và tuân thủ chặt chẽ các quy định của Nhà nước. Các chế độ đối với người có công được thực hiện chu đáo. Công tác dân quân tự vệ, quân dự bị động viên được kiện toàn. Các chế độ, chính sách đối với quân nhân dự bị và chiến sỹ tự vệ cơ quan được đảm bảo.
Công tác đánh giá cán bộ, thi đua, khen thưởng được triển khai hàng năm. Văn phòng đã tổ chức thành công Đại hội thi đua yêu nước lần thứ nhất. Năm 2005, công tác thi đua khen thưởng của cơ quan được xếp thứ 3 trong khối cơ quan Bộ, ngành Trung ương và được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen.
3. Công tác bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật
Công tác bảo đảm các điều kiện vật chất cho hoạt động của Quốc hội (các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp của UBTVQH, Hội nghị đại biểu chuyên trách...) trong nhiệm kỳ này đã dần đi vào nền nếp, đáp ứng tốt hơn yêu cầu đề ra. Các chuyến thăm, làm việc, tiếp xúc cử tri của lãnh đạo Quốc hội, lãnh đạo Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban, các đoàn giám sát; Đón- tiễn ĐBQH tại sân bay, đi công tác; Ăn nghỉ tại nhà khách của các đại biểu, tiếp các đoàn khách trong và ngoài nước, đặc biệt có nhiều Hội nghị, Hội thảo quốc tế lớn được tổ chức phục vụ chu đáo, an toàn.
Việc dự toán, phân bổ kinh phí hoạt động đã có nhiều tiến bộ: dân chủ, công khai và chất lượng. Đặc biệt, từ năm 2004 thực hiện Luật Ngân sách Nhà nước, đã có nhiều thay đổi trong công tác lập, phân bổ, giao dự toán trong công tác điều hành thực hiện kinh phí hoạt động của Quốc hội. Đã đảm bảo kịp thời kinh phí phục vụ các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp của UBTVQH, hội nghị ĐBQH chuyên trách; Kinh phí hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban, các Ban và kinh phí hỗ trợ cho Quốc hội Lào tổ chức Hội nghị AIPO... Nhìn chung, các nhu cầu chi tiêu chủ yếu phục vụ cho hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đều được đáp ứng kịp thời. Công tác quản lý tài chính, tài sản được quan tâm hơn.
Với tư cách là đơn vị đặc thù, Vụ Công tác phía Nam đã phối hợp chặt chẽ với các Vụ hữu quan của VPQH, các cơ quan hữu quan tại các tỉnh phía Nam, các đoàn ĐBQH các tỉnh, thành phố phía Nam, hoàn thành tốt việc phục vụ các đoàn công tác của lãnh đạo Quốc hội và tiếp xúc cử tri của ĐBQH cũng như các hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, các ĐBQH ở các tỉnh phía Nam.
4. Công tác triển khai ứng dụng công nghệ thông tin
Công tác ứng dụng tin học phục vụ các hoạt động của Quốc hội được quan tâm, chú trọng. “Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan của Quốc hội” là cơ sở cho các bước phát triển tiếp theo của việc ứng dụng công nghệ thông tin tại Quốc hội. Đã xây đựng, duy trì và phát triển hệ thống mạng máy tính tại Văn phòng; Xây dựng, quản lý và vận hành hệ thống thư điện tử của Quốc hội trên Internet cho ĐBQH, chuyên viên Văn phòng giúp việc Đoàn ĐBQH, cán bộ Văn phòng và địa phương. Đồng thời, đã xây dựng cơ sở dữ liệu gỡ băng ghi âm ý kiến thảo luận của ĐBQH tại các kỳ họp Quốc hội từ kỳ họp thứ 4 Quốc hội Khóa X đến nay. Cơ sở dữ liệu Luật Việt Nam được nâng cấp và cập nhật thường xuyên trên mạng nội bộ (đến nay đã có khoảng 19.464 văn bản luật, dưới luật). Trang tin báo chí phục vụ kỳ họp trên mạng nội bộ, các trang tin kỳ họp Quốc hội trên mạng tin điện tử của Quốc hội và trên mạng Internet được xây dựng và đưa vào vận hành đã cập nhật tương đối đầy đủ các hoạt động và tài liệu phục vụ kỳ họp Quốc hội để công chúng tham khảo; Xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu quản lý hồ sơ văn bản của các Ủy ban của Quốc hội; Phối hợp với các đơn vị hữu quan xây dựng một số cơ sở dữ liệu và ứng dụng phục vụ chuyên môn như hệ thống chương trình quản lý công tác tổ chức- cán bộ, đơn thư dân nguyện; Báo Người đại biểu nhân dân điện tử...
5. Công tác thông tin, nghiên cứu khoa học và thực hiện các dự án quốc tế
Công tác thông tin cho ĐBQH được chú trọng thông qua việc tổ chức dịch vụ Hỏi- đáp thông tin, xây dựng Thư viện điện tử, cơ sở dữ liệu tra cứu sách, báo; Đặc biệt là các dịch vụ nghiên cứu theo chuyên đề hoặc theo yêu cầu... được đáp ứng tương đối kịp thời và đầy đủ.
Công tác tổ chức và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học từng bước được chuẩn hóa, đặc biệt là quy trình tổ chức triển khai, thẩm định và nghiệm thu các đề tài nghiên cứu khoa học. Hoạt động điều tra xã hội học bước đầu thu được kết quả đáng ghi nhận.
Công tác tổ chức hoạt động báo chí tuyên truyền về hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là các kỳ họp Quốc hội nói chung là đúng định hướng, tuân thủ quy định của pháp luật, bảo đảm nguyên tắc bảo mật về thông tin, đúng nội dung tuyên truyền. Việc biên tập Kỷ yếu và phát hành các ấn phẩm chuyên đề được xuất bản kịp thời, có chất lượng tốt, giàu lượng thông tin, phục vụ nhu cầu ngày càng cao của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và ĐBQH. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế, bất cập cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.
Văn phòng đã tổ chức nghiên cứu, hệ thống hóa tư liệu, hình ảnh, sưu tầm, biện soạn và tái tạo lịch sử hình thành, phát triển của Quốc hội và VPQH; Có nhiều hình thức thích hợp để tuyên truyền, giới thiệu về lịch sử Quốc hội.
Các dự án hợp tác quốc tế đã có những đóng góp tích cực vào việc phục vụ công tác xây dựng pháp luật, giám sát, dân nguyện... Đã tổ chức các khóa bồi dưỡng kỹ năng ở trong nước và nước ngoài, góp phần tăng cường năng lực ĐBQH và đội ngũ cán bộ giúp việc Quốc hội ở trung ương và địa phương. Trang bị sách và tài liệu nghiên cứu, các trang thiết bị và phần mềm ứng dụng góp phần bổ sung thêm cơ sở vật chất tạo điều kiện thuận lợi trong công tác phục vụ.
6. Công tác báo chí
Báo Người đại biểu nhân dân và Tạp chí Nghiên cứu lập pháp đã kiện toàn tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động để đáp ứng yêu cầu đặt ra ngày càng cao trong việc tuyên truyền hoạt động của Quốc hội.
Báo Người đại biểu nhân dân đã phát triển từ tuần báo thành nhật báo, xây dựng và đưa vào hoạt động Báo điện tử và Tòa soạn điện tử... đáp ứng được nhu cầu thông tin thời sự nhanh nhạy, đa dạng. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp bên cạnh số ra hàng tháng đã phát hành số chuyên đề “Hiến kế lập pháp” nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu của các đối tượng độc giả.
Hoạt động báo chí của Quốc hội những năm qua luôn hướng vào việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền cả về chiều rộng và chiều sâu, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội và HĐND, cố gắng bám tôn chỉ, mục đích, tuân thủ quy định của pháp luật, bảo đảm bảo mật về thông tin.
7. Công tác bảo đảm an ninh
Công tác an ninh có nhiều chuyển biến tích cực: Đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an, Quân đội, Bộ tư lệnh Cảnh vệ đảm bảo an toàn các hoạt động của cơ quan, các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp của UBTVQH, các hội nghị quốc gia, quốc tế do Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội tổ chức; Kịp thời xử lý các tình huống khiếu kiện phức tạp tại trụ sở cơ quan và nhà riêng các đồng chí lãnh đạo; Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin liên quan tới công tác bảo vệ, cấp phát phù hiệu phục vụ các kỳ họp Quốc hội; Duy trì chế độ kiểm tra, bảo dưỡng các phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy; Thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả trong công tác bảo vệ các kỳ họp của Quốc hội.
8. Hoạt động của công đoàn và các đoàn thể
5 năm vừa qua (2002- 2007), công đoàn VPQH đã trải qua hai nhiệm kỳ Đại hội. Số lượng đoàn viên công đoàn không ngừng tăng lên. Các hoạt động được đẩy mạnh và hiệu quả, cụ thể như: phối hợp cùng các đơn vị và cơ quan chức năng giải quyết chế độ- chính sách cho các trường hợp khó khăn đột xuất; Thăm hỏi các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, thực hiện chu đáo việc hiếu, hỷ... Bên cạnh đó, Công đoàn đã thường xuyên quan tâm tổ chức các hoạt động thể thao, văn hóa văn nghệ, các lớp học lái xe; Tham gia hưởng ứng các đợt quyên góp ủng hộ Quỹ Vì người nghèo và Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, ủng hộ đồng bào bị bão lụt, ủng hộ trẻ em tàn tật, thương binh, bệnh binh, mua trái phiếu xây dựng Tổ quốc, ủng hộ nạn nhân bị thảm họa sóng thần... Đặc biệt, từ năm 2004 đã nhận nuôi dưỡng 3 mẹ Việt Nam anh hùng ở 3 miền...
Với những thành tích đạt được, Công đoàn Văn phòng đã được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen (năm 2003), 5 Cờ thi đua của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và của Công đoàn viên chức Việt Nam. Hàng chục đơn vị và cá nhân được tặng bằng khen, Huy chương và kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp xây dựng tổ chức công đoàn”.
Đoàn thanh niên cơ quan lớn mạnh không ngừng, hoạt động sôi nổi, hiệu quả, đóng góp tích cực vào những thành tích đạt được của Văn phòng. Các tổ chức Chi hội nhà báo, Chi hội luật gia... đã hoạt động tích cực theo đúng tôn chỉ, mục đích đề ra.