
Các giải pháp lớn phát triển KT – XH năm 2009
1. Tiếp tục kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô
Để kiềm chế mức tăng giá tiêu dùng cả năm 2009 dưới 15%, đưa lạm phát xuống một con số vào năm 2010 và ổn định vững chắc hơn kinh tế vĩ mô phải tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, nhưng rất linh hoạt trong điều hành nhằm bảo đảm vốn cho việc tăng trưởng hợp lý và ngăn chặn sự suy giảm của nền kinh tế. Điều hành lãi suất theo cơ chế thị trường; áp dụng tỷ giá linh hoạt bảo đảm yêu cầu kiềm chế lạm phát, khuyến khích sản xuất và xuất khẩu, hạn chế nhập siêu. Tăng cường hiệu quả điều tiết vĩ mô và thanh tra, giám sát các hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo đảm an toàn hệ thống. Kiểm soát có hiệu quả việc cho vay kinh doanh bất động sản, kinh doanh chứng khoán và các luồng tiền trong nền kinh tế.
Thực thi chính sách tài khóa chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, thực hiện tốt mục tiêu giảm tỷ lệ bội chi; triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; đình hoãn, giãn tiến độ các dự án đầu tư chưa thực sự cần thiết, không hiệu quả. Kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước.
Kiên trì chính sách giá theo cơ chế thị trường, điều chỉnh giá điện, than với lộ trình phù hợp cùng với việc hỗ trợ các nhóm đối tượng bị ảnh hưởng tiêu cực do tăng giá.
Phát huy tối đa năng lực sản xuất hiện có, điều hành xuất nhập khẩu và tổ chức tốt thị trường trong nước, bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu, không để xảy ra thiếu hàng. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống đầu cơ, buôn lậu, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng; thực hiện nghiêm các quy định về niêm yết giá và bán theo giá niêm yết; xử lý kịp thời các hành vi vi phạm; bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Đề cao trách nhiệm của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong việc bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất, tiêu dùng và tham gia tích cực vào việc bình ổn thị trường giá cả.
2. Tháo gỡ khó khăn, huy động mọi nguồn lực để duy trì tăng trưởng và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Đẩy mạnh sản xuất nông lâm ngư và diêm nghiệp theo quy hoạch. Bảo đảm diện tích lúa với cơ cấu giống thích hợp để giữ vững an ninh lương thực và nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Phát triển một số loại cây công nghiệp, cây trồng khác có khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Đẩy mạnh việc trồng mới và bảo vệ rừng, gắn với cơ chế, chính sách thích hợp để xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người làm nghề rừng. Khôi phục và phát triển nhanh chăn nuôi đi đôi với làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh. Khai thác hợp lý hải sản, đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản, tập trung vào những loại có hiệu quả kinh tế cao. Phát triển một số nông sản, thủy sản có điều kiện để làm thức ăn chăn nuôi, giảm dần nhập khẩu. Tập trung chỉ đạo gắn kết có hiệu quả hơn giữa sản xuất nông nghiệp với thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm.
Tăng năng lực các ngành sản xuất công nghiệp, nhất là các sản phẩm mà thị trường đang có nhu cầu; phát triển công nghiệp chế tạo, chế biến nhất là công nghiệp cơ khí và chế biến khoáng sản. Thu hút mạnh đầu tư vào các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, thân thiện với môi trường; phát triển nhanh một số ngành công nghiệp hỗ trợ có lợi thế cạnh tranh.
Phát triển các ngành dịch vụ để tăng nhanh tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế, gắn phát triển dịch vụ vận tải với dịch vụ logistic nhằm giảm chi phí lưu thông hàng hoá; phát triển các dịch vụ tư vấn, viễn thông, dịch vụ tài chính; phát triển nhanh hệ thống dịch vụ thương mại; tăng khả năng liên kết vùng, liên kết ngành để nâng cao hiệu quả tổng hợp của dịch vụ du lịch.
Các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhà nước cần tích cực đổi mới công nghệ, hoàn thiện quản lý, triệt để tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, nhằm hạ giá thành, phí lưu thông, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm. Ban hành chính sách thích hợp để khuyến khích doanh nghiệp thực hiện các yêu cầu này. Các bộ và địa phương phải tăng cường kiểm tra, huỷ bỏ các loại phí trái quy định, đặc biệt là trong các lĩnh vực tiếp cận đất đai, hải quan, nộp thuế, cấp giấy phép đầu tư, chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, các loại phí trên đường vận chuyển... giảm chi phí trung gian cho doanh nghiệp.
Đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hoá. Thực hiện cổ phần hoá các tập đoàn và tổng công ty nhà nước theo kế hoạch; tiếp tục bán số cổ phần nhà nước trong các doanh nghiệp đã cổ phần hoá mà nhà nước không cần chi phối. Phát huy vai trò của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước trong việc quản lý và phát triển vốn nhà nước, phục vụ cho nhu cầu phát triển. Phân định rõ trách nhiệm của bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân các địa phương với Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá.
Thực hiện các giải pháp để bảo đảm điện cho sản xuất và đời sống. Trong năm 2009, tăng công suất phát điện thêm khoảng 3.400 MW đi đôi với triệt để tiết kiệm trong sử dụng, phấn đấu giảm lượng điện tiêu thụ trong quan hệ với tăng GDP. Ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư phát triển nguồn điện; mở rộng việc sử dụng năng lượng tái sinh, năng lượng sinh học; giảm tối đa và phấn đấu chấm dứt tình trạng cắt điện; xây dựng thị trường điện cạnh tranh, tách sản xuất điện với phân phối điện.
Bảo đảm đủ vốn cho sản xuất kinh doanh các mặt hàng thiết yếu, hàng xuất khẩu và vốn để đẩy nhanh thi công, sớm đưa vào sử dụng các dự án, các công trình quan trọng nhằm tăng năng lực sản xuất và lưu thông hàng hoá. Ban hành danh mục kêu gọi đầu tư cùng với các chính sách cụ thể khuyến khích đầu tư các công trình hạ tầng. Có chính sách hỗ trợ phù hợp để phát huy hiệu quả của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tiến hành sơ kết rút kinh nghiệm về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; xây dựng danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với chiến lược phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; chú trọng thu hút các dự án công nghệ cao, sử dụng đất có hiệu quả và thân thiện với môi trường; đẩy nhanh việc giải phóng mặt bằng, giải quyết các vướng mắc để tăng tỷ lệ giải ngân. Tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.
3. Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, giảm nhập siêu
Để đạt kế hoạch kim ngạch xuất khẩu (khoảng 76,7 tỷ USD) phải cơ cấu lại mặt hàng xuất khẩu theo hướng tăng xuất khẩu các mặt hàng chế tạo chế biến, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu; phát triển các mặt hàng xuất khẩu mới; giảm xuất khẩu nguyên liệu thô. Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại ở cả 3 cấp: doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và Chính phủ nhằm mở thêm thị trường mới. Đề cao trách nhiệm của các tổ chức xúc tiến thương mại, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, hiệp hội ngành hàng trong việc hỗ trợ, phối hợp với doanh nghiệp trong xuất khẩu.
Tiếp tục thực hiện các giải pháp kiểm soát nhập khẩu không trái với quy định của WTO để hạn chế nhập khẩu các mặt hàng chưa thật sự cần thiết; giữ mức nhập siêu khoảng 20,7 tỷ USD, bằng 27,0% kim ngạch xuất khẩu. Áp dụng các biện pháp đồng bộ để chống nhập lậu, gian lận thương mại.
4. Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 7 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Trên cơ sở Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Chương trình hành động của Chính phủ, các bộ và địa phương phải khẩn trương xây dựng kế hoạch hành động; huy động các nguồn lực, tập trung chỉ đạo nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết đã đề ra; trong đó, chú trọng một số trọng tâm sau:
Làm tốt công tác quy hoạch, bao gồm quy hoạch về đất đai, quy hoạch hạ tầng, quy hoạch phát triển sản xuất và quy hoạch xây dựng nông thôn gắn với quy hoạch phát triển đô thị.
Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực, làm tốt công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư để đẩy nhanh việc chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, nhất là các tiến bộ về giống cây trồng vật nuôi, kỹ thuật canh tác, nuôi trồng, phòng trừ dịch bệnh, bảo quản, chế biến sau thu hoạch.
Nhà nước tăng đầu tư và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp chế biến, kinh doanh dịch vụ nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn.
Nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức sản xuất thích hợp gắn với tích tụ ruộng đất để hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn, tạo điều kiện đưa công nghiệp tác động vào nông nghiệp. Tổ chức tốt hơn việc tiêu thụ nông sản, mở rộng việc tiêu thụ thông qua hợp đồng, nhất là các sản phẩm khối lượng lớn, có tính thời vụ cao mà người sản xuất khó khăn trong việc thu hoạch, bảo quản.
Khẩn trương chuẩn bị để trình Quốc hội xem xét sửa đổi Luật Đất đai và Luật Hợp tác xã.
5. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo
Tiếp tục thực hiện tốt các chương trình, dự án và các chính sách đã ban hành để hỗ trợ phát triển sản xuất, ổn định đời sống người nghèo, vùng nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn, vùng bị thiên tai, dịch bệnh. Các bộ và địa phương phải bố trí đủ nguồn vốn và tăng dự trữ, dự phòng, bảo đảm đủ chi cho nhiệm vụ này; hoàn thiện cơ chế thực thi và chỉ đạo kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện để nguồn hỗ trợ của nhà nước đến đúng đối tượng, kịp thời, không để thất thoát, lãng phí. Mở rộng đối tượng thụ hưởng và tăng mức hỗ trợ thích hợp theo các chính sách an sinh xã hội hiện có.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ có tính cơ bản lâu dài về an sinh xã hội, trong đó tập trung vào một số trọng tâm sau:
Nghiên cứu sớm ban hành chuẩn nghèo mới phù hợp với tình hình lạm phát và thực tiễn nước ta; sớm phê duyệt và triển khai thực hiện Đề án hỗ trợ các huyện có tỷ lệ nghèo cao nhất trên cơ sở vận dụng tối đa những chính sách và lồng ghép có hiệu quả những chương trình, dự án hiện có, đồng thời ban hành các chính sách đặc thù để hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững ở những huyện này.
Tiếp tục thực hiện Đề án cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn 2008 - 2012. Triển khai tốt việc điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng đối với các doanh nghiệp. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để điều chỉnh mức lương tối thiểu chung áp dụng trong năm 2009; thực hiện chế độ phụ cấp công vụ 10% đối với cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang; thực hiện bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 01 tháng 01 năm 2009; mở rộng các hình thức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Thực hiện Chương trình quốc gia về nhà ở, phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp ở khu vực đô thị; sớm hoàn tất thủ tục để triển khai Đề án hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, Đề án phát triển nhà công vụ cho giáo viên; khẩn trương phê duyệt và triển khai Đề án chung sống an toàn với lũ tại các tỉnh miền Trung.
Nâng cao năng lực của Ngân hàng Chính sách Xã hội để thực hiện có hiệu quả các chương trình tín dụng an sinh xã hội và đáp ứng nhu cầu vốn cho người nghèo, các đối tượng chính sách để học tập, phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống.
Thí điểm việc thoả ước lao động ngành và thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng quan hệ lao động lành mạnh, bền vững; khuyến khích doanh nghiệp hỗ trợ thiết thực cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động, nhất là ở các khu công nghiệp tập trung. Chủ động giải quyết phù hợp vấn đề đình công và đưa việc đình công vào trật tự pháp luật.
Làm tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, bảo đảm hài hoà lợi ích giữa nhà nước, người đang sử dụng đất và nhà đầu tư. Ủy ban nhân dân các cấp phải quan tâm giải quyết các khiếu kiện của công dân, nhất là về đất đai theo đúng pháp luật và phù hợp với tình hình thực tế, không để khiếu kiện kéo dài.
Các bộ, địa phương chủ động lập phương án cụ thể, chỉ đạo sâu sát việc phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản. Khẩn trương triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nguy cơ nước biển dâng, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
6. Tăng đầu tư ngân sách nhà nước và đẩy mạnh xã hội hoá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hoá và bảo vệ môi trường
Tăng tỷ trọng chi ngân sách nhà nước cho con người, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tối đa các nguồn lực đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng này. Tiếp tục triển khai đồng bộ các Chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực xã hội theo kế hoạch 2006 - 2010.
Nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô giáo dục đào tạo, tập trung vào những nội dung sau đây: nhà nước tập trung đầu tư cho giáo dục phổ cập, cho các trường công lập, hỗ trợ các học sinh tài năng, học giỏi, học sinh nghèo và học sinh thuộc diện gia đình chính sách; đồng thời, đẩy mạnh xã hội hoá nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào giáo dục; mở rộng phương thức đào tạo theo hợp đồng, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng. Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy theo hướng tiên tiến, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực trình độ cao. Đổi mới quản lý giáo dục, tăng tính chủ động cho nhà trường, trước hết là các trường thuộc hệ đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề. Tăng cường hợp tác quốc tế, đưa nền giáo dục nước ta hội nhập với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, khẩn trương triển khai có kết quả các dự án hợp tác quốc tế, nhất là về đào tạo giáo viên.
Tăng cường năng lực khoa học công nghệ trong nước và tiếp thu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến. Phát triển các hoạt động tư vấn, môi giới, chuyển giao công nghệ, tổ chức các chợ công nghệ và thiết bị. Đổi mới cơ chế hoạt động và tăng cường gắn kết tổ chức khoa học công nghệ với cơ sở sản xuất. Phát triển các sản phẩm quốc gia do ta làm chủ với công nghệ tiên tiến. Ban hành chính sách khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đưa tỷ lệ đổi mới công nghệ lên mức cao hơn. Khai thác có hiệu quả các phòng thí nghiệm trọng điểm đã hoàn thành và đẩy nhanh tiến độ xây dựng hai khu công nghệ cao.
Thực hiện kiên quyết và đồng bộ các biện pháp giảm ô nhiễm, bảo vệ và cải thiện môi trường, nhất là ở các khu đô thị, khu công nghiệp, làng nghề. Làm tốt hơn công tác quản lý, xử lý chất thải. Đẩy mạnh xã hội hoá và phát triển công nghiệp bảo vệ môi trường; khuyến khích, tiến tới bắt buộc sử dụng các vật liệu bao gói không gây ô nhiễm; tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm. Tăng năng lực hệ thống quan trắc, cung cấp kịp thời các thông tin về môi trường.
Tăng chi cho y tế cao hơn tốc độ tăng chi chung của ngân sách nhà nước. Tập trung đầu tư cho các bệnh viện tuyến huyện, nâng cấp các trạm y tế tuyến xã, các trung tâm y tế dự phòng; tiếp tục đầu tư cho các bệnh viện đầu ngành, bệnh viện vùng, bệnh viện tuyến tỉnh, trung tâm y tế chuyên sâu theo quy hoạch. Tăng đầu tư trang thiết bị kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm và tập trung làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh. Phát triển công nghiệp dược, sản xuất vắc xin, sinh phẩm y tế, nâng thêm thị phần thuốc sản xuất trong nước, đi đôi với tổ chức, quản lý tốt việc phân phối, nhất là ở các bệnh viện để ổn định thị trường thuốc. Kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình. Tập trung mọi nỗ lực để đạt mục tiêu giảm sinh vững chắc.
Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội và sinh hoạt của nhân dân. Tăng cường quản lý hoạt động xuất bản, nâng cao chất lượng các ấn phẩm, góp phần giáo dục nhân cách, lối sống lành mạnh, nhất là cho thanh niên, thiếu niên. Chấn chỉnh việc tổ chức các lễ hội, khắc phục tình trạng lãng phí. Tích cực chuẩn bị kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Thực hiện tốt chính sách tôn giáo, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện bình đẳng giới, nâng cao vị thế và vai trò của phụ nữ trong xã hội. Triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về thanh niên và trí thức.
7. Đẩy mạnh cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng
Tiếp tục thực hiện đồng bộ công tác cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính, làm cho khâu đột phá này có bước tiến mới về chất. Kiên quyết loại bỏ những giấy phép không cần thiết; công khai minh bạch các thủ tục hành chính; mở rộng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết các việc liên quan đến người dân và doanh nghiệp. Trên cơ sở những cách làm tốt nhất ở các ngành, các địa phương, xây dựng mô hình chuẩn về giải quyết thủ tục hành chính để áp dụng chung cả nước. Triển khai chặt chẽ việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường và nhân dân bầu trực tiếp Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.
Thực hiện Chương trình Chính phủ điện tử, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý nhà nước; đổi mới phương thức điều hành của cả hệ thống hành chính; từng bước hiện đại hoá nền hành chính. Giảm mạnh hội họp. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước.
Tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm gắn với thực hiện tốt cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong phòng chống tham nhũng, lãng phí. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng các cấp. Đẩy nhanh việc xét xử các vụ việc vi phạm. Thực hiện minh bạch, công khai cơ chế chính sách, quy hoạch phát triển... coi đây là tiền đề quan trọng trong phòng ngừa tham nhũng, lãng phí. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với công tác này.
8. Tăng cường công tác đối ngoại, quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội
Kiên trì thực hiện có hiệu quả đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước nhằm tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước; đưa các quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững; phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, các dân tộc trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi.
Thực hiện tốt trách nhiệm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc. Tích cực tham gia vào các cơ chế hợp tác khu vực, nhất là trong khuôn khổ ASEAN và các chương trình hợp tác tiểu vùng.
Nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư với các nước. Chủ động xây dựng khuôn khổ hợp tác kinh tế với các đối tác tiềm năng, xúc tiến đàm phán Hiệp định Đầu tư, Hiệp định Kinh tế song phương. Tiếp tục vận động các nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường.
Thực hiện tốt Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; đẩy mạnh ngoại giao văn hóa và tuyên truyền đối ngoại, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Bằng các giải pháp tổng hợp, đẩy mạnh phòng chống để giảm tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức; bảo đảm tốt hơn trật tự an toàn giao thông, phấn đấu giảm ùn tắc và tai nạn giao thông.
Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh của đất nước, xây dựng quân đội và công an vững mạnh; củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Thưa các vị đại biểu Quốc hội,
Nhiệm vụ năm 2009 là rất nặng nề. Chúng ta vừa phải phấn đấu đạt cho được những kết quả cơ bản trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, giải quyết tốt hơn những vấn đề an sinh xã hội; vừa chủ động hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đến nền kinh tế nước ta, phấn đấu giữ tăng trưởng ở mức hợp lý với yêu cầu chất lượng cao hơn. Tình hình kinh tế thế giới đang diễn biến rất nhanh, phức tạp và cũng rất khó dự báo. Chính phủ xin kiến nghị Quốc hội xem xét quyết định những chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường mà Chính phủ trình là những chỉ tiêu có tính định hướng. Chính phủ sẽ nỗ lực hết sức mình, hành động khẩn trương, quyết liệt cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nỗ lực phấn đấu đạt kết quả cao nhất trong năm 2009, tạo tiền đề thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm 2006 - 2010.
Chúng ta tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, làm tốt hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền, tạo sự đồng tâm hiệp lực trong cả hệ thống chính trị và sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, nhất định chúng ta sẽ vượt qua khó khăn thách thức, tranh thủ thời cơ thuận lợi đưa đất nước tiếp tục phát triển bền vững.