Thực hiện được điều này hết sức khó, đòi hỏi sự phấn đấu hết mình của từng đại biểu. Hơn nữa, những vấn đề thuộc về cơ chế và quy trình thực thi tính đại diện đó cũng còn có những vấn đề phải suy nghĩ. Chẳng hạn như, các đơn vị bầu cử chỉ được hình thành trong thời gian bầu cử mà không tồn tại song song với các đơn vị chính trị của đất nước. Như vậy sự gắn bó thường xuyên của đại biểu Quốc hội với cử tri bầu mình sẽ không chặt chẽ. Chỉ có những đơn vị hành chính mà không có các đơn vị chính trị sẽ rất hạn chế việc phát huy dân chủ của cử tri và hoạt động của đại biểu Quốc hội (*). Để tiến tới một Quốc hội có một cấu trúc hợp lý nhằm thực hiện tốt chức năng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, còn rất nhiều việc phải làm. Trước mắt, trong quá trình hoàn thiện, để thực hiện được chức năng của Quốc hội và hoàn thành nghĩa vụ của người đại biểu Quốc hội, báo chí là một trong những công cụ cực kỳ quan trọng không thể thiếu. Vì, báo chí, theo C.Mác “là cái thế giới ý tưởng không ngừng trào ra từ thực tế hiện thực, lại chảy trở về hiện thực như một dòng thác đầy sinh khí”. Làm được điều đó nếu “báo chí sống trong nhân dân và trung thực chia sẻ với nhân dân niềm hy vọng và nỗi lo lắng của họ, tình yêu và lòng căm thù của họ, niềm vui và nỗi buồn của họ” (**). Nếu “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội” như Đại hội X đã chỉ ra, thì trong cái “nền tảng” ấy, báo chí giữ một vị trí đặc biệt. Báo chí “là con mắt sáng suốt của tinh thần nhân dân, là hiện thân sự tin cậy của nhân dân đối với bản thân mình, là những giây liên hệ biết nói, gắn liền các cá nhân với nhà nước…” (**) như mong ước của C.Mác.
Chẳng phải chỉ C.Mác, trước C.Mác bốn thập kỷ, Thomass Jefferson, vị Tổng thống nổi tiếng của nước Mỹ, tác giả của Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn trong “Tuyên ngôn Độc lập” ngày 2.9.1945, từng tuyên bố: nếu phải chọn một chính phủ không cần báo chí với một báo chí không cần chính phủ thì ông chọn cái thứ hai! Từ thế kỷ XIX, bộ óc thông thái vào bậc nhất của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã thấy ra được sức mạnh của thông tin và vai trò của báo chí trong nền văn minh của loài người.
Khao khát thông tin là một thuộc tính của con người, một thuộc tính người. Vì ý thức là cái quyết định sự phân biệt giữa con người và con vật, mà thông tin chính là dưỡng chất nuôi sống ý thức. Thông tin là mạch sống của thế giới hiện đại. Nhờ có những thành tựu lớn lao của công nghệ thông tin mà con người sống trong thế giới kỹ thuật số dễ dàng gắn kết với nhau trong cái “ngôi làng toàn cầu” ngày một trở nên gần gũi. Khoảng cách không gian không còn là một trở ngại nữa khi mà, với internet nối mạng toàn cầu, ngồi một chỗ, người ta có thể biết ngay tức thì những chuyện đang xảy ra tại bất cứ một thị trấn, một ngôi làng, một cửa hàng... của bất cứ xó xỉnh nào dù ở tít tắp tận cùng trái đất. Nhờ thành tựu của công nghệ thông tin mà sự chu chuyển vốn từ nơi này sang nơi khác, quốc gia này sang quốc gia khác, châu lục này sang châu lục khác của các “siêu công ty” chỉ còn được tính bằng giây qua một nút ấn trên máy vi tính, trong đời sống hiện đại, thông tin cần như không khí để thở.
Khi mà "xã hội thông tin" đã là một hiện thực trên hành tinh của chúng ta, thì tiếp nhận và xử lý thông tin để tạo ra tri thức là một đòi hỏi của sự phát triển. Không phải ngẫu nhiên mà Nhật Bản là nước có số lượng người mua báo nhiều nhất thế giới: tính trung bình cứ 1.000 người Nhật mua 630,9 tờ báo. Liệu đây có phải là một trong những nguyên nhân về sự “phát triển thần kỳ” của Nhật Bản? Vươn lên từ trong đống đổ nát, tan hoang của một nước bại trận trong chiến tranh, chỉ trong thời gian mấy thập kỷ, Nhật Bản đã vươn lên là cường quốc kinh tế thứ hai.
Tiếp nhận và xử lý thông tin để tạo ra tri thức, đây là một thách đố hết sức gay gắt đối với tất cả mọi người đang sống trong thế kỷ XXI. Đó cũng là thách đố với mỗi một người Việt Nam trong bối cảnh tiến trình phát triển và hội nhập đi vào chiều sâu. Để vượt qua thách đố đó, báo chí, do chức năng đặc biệt của mình, là một vũ khí lợi hại nếu biết khai thác và sử dụng một cách thông minh. Chỉ xin gợi một ví dụ: sẽ hiểu được rõ vai trò của báo chí trong cuộc sống hôm nay của đất nước ta, nếu làm được một thống kê xem thử, những sự kiện tiêu cực lớn, những sai lầm được bưng bít và bao che, những thủ đoạn gian manh được bảo kê bởi những thế lực khó ngờ do nhà báo phát hiện, phanh phui và cảnh báo với dư luận, dẫn đến những phiên tòa, chiếm tỷ lệ bao nhiêu so với cuộc đấu tranh từ bên trong tổ chức đẩy tới sự can thiệp của pháp luật.
Nhìn rộng hơn, đồng hành cùng với sự nghiệp Đổi Mới, sự khởi sắc của báo chí là thành tựu của sự nghiệp Đổi Mới, đồng thời, báo chí đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp lớn lao đó. Nhìn lại chặng đường mấy mươi năm của tiến trình Đổi Mới, chúng ta thấy rõ báo chí thật sự là một nhu cầu to lớn trong đời sống xã hội. Có điều đó chính vì, đối với một số tờ báo, người đọc trung thực nhận ra ở đó cách nhìn thẳng vào sự thật và dám nói lên sự thật, phản ánh đúng ý chí và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, từ đó, tạo ra một áp lực của dư luận đấu tranh chống lại những tiêu cực xã hội, những trì trệ, thoái hóa của một bộ phận không nhỏ trong bộ máy quản lý đang kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Quyền được thông tin là một đảm bảo cho sự phát triển đó, sự phát triển trong bối cảnh của những thành tựu như vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, giúp kéo sát mọi người lại với nhau trong cái “ngôi làng toàn cầu” ngày càng trở nên nhỏ hẹp, khi mà tiến trình hội nhập của đất nước đang đi vào chiều sâu. Báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng trong đấu tranh, tạo điều kiện để mọi tầng lớp nhân dân thực hiện quyền được thông tin đó. Chống lại sự bưng bít thông tin như thời gian qua báo chí kiên cường và nhẫn nại tiến hành, đã thật sự góp phần to lớn khơi thông dòng chảy của dòng sông cuộc sống.
Động cơ của chuyện bưng bít, ém nhẹm thông tin có nhiều lý do và biến thái phức tạp. Những bê bối trong quản lý đô thị, trong xây dựng, trong giao thông v.v... khiến cho thanh tra "sờ đến đâu cũng thấy có vấn đề" càng nói lên sự lạc hậu và bất cập của bộ máy quản lý các cấp, từ trung ương đến địa phương. Báo chí có sự đóng góp thiết thực và hiệu quả để giảm bớt sự lạc hậu và bất cập đó bằng sức mạnh của riêng mình “là những dây liên hệ biết nói, gắn liền các cá nhân với nhà nước” như đã nói ở trên.
Những “sợi dây liên hệ biết nói ấy”, nếu biết sử dụng một cách thông minh, biết cách phát huy sức mạnh vô tận của báo chí, hoạt động quản lý sẽ có trong tay mình một vũ khí sắc bén, khó có cái gì khác có thể so sánh. Sức mạnh vô tận đó không có gì khác, đó là sức mạnh của nhân dân, đối tượng phục vụ của Nhà nước và cũng là nền tảng vững chắc của Nhà nước. Chẳng thế mà, Napoléon Đệ nhất, người từng vỗ ngực mà nói rằng “Nhà nước là ta”, nhưng lại lớn tiếng cảnh báo rằng: “nhà nước là cái gì? Không ra cái gì cả, nếu nó không có dư luận”. Nhà độc tài thông minh đã hiểu được, xét đến cùng, sức mạnh của ông ta đến từ đâu.
Trong cách diễn đạt hiện nay của chúng ta, với tai mắt của quần chúng, hoạt động quản lý không còn đơn thuần là công việc của người cầm quyền. Không phải ngẫu nhiên mà càng ngày người ta càng thấy ra, một nhà nước pháp quyền mạnh, phải có sự hỗ trợ lớn lao và bền bỉ của xã hội dân sự. Đơn giản chỉ là vì, nhà nước không nên ôm, và cũng không thể ôm hết tất cả mọi việc nhằm điều hành hoạt động xã hội. Một nhà nước mạnh là một nhà nước biết nắm cái gì và buông cái gì. Xã hội dân sự chia sẻ trách nhiệm với nhà nước trong sự tự vận hành hoạt động xã hội. Báo chí, mà trong cách diễn đạt của Napoléon là dư luận, có vai trò cực kỳ lớn trong hoạt động của xã hội dân sự. Báo chí góp phần tăng thêm tính công khai và minh bạch của hoạt độâng Nhà nước pháp quyền XHCN mà ta đang xây dựng, làm cho Nhà nước pháp quyền ấy nó gần gũi với “xã hội dân sự” với "hoạt động xã hội".
Nói thế là vì, xã hội là một cơ thể sống đang hoạt động. Mà đã là sự sống thì không thể tự cô lập. Nếu cần có một môi trường sinh thái cho mọi sinh vật thì cũng cần một môi trường xã hội cho mọi cá nhân. Cô lập sinh vật với môi trường là giết chết nó. Môi trường xã hội cũng không khác bao nhiêu so với môi trường tự nhiên ấy tuy có những đặc thù. Trong môi trường đó, mọi cái đều đang vận động, dựa vào nhau để tồn tại và phát triển. Đôi khi, ta có thể không thấy rõ cái nào hỗ trợ cái nào, ai hỗ trợ ai, ai làm việc cho ai trong sự phát triển chung của toàn xã hội. Mặc dù vậy, mọi cái đều hoạt động và đều chịu sự tác động lẫn nhau. Từ xa xưa, Aristotle đã quan niệm: "tiềm năng của một cá thể là những phối hợp chức năng khác nhau về hành vi và trạng thái mà người đó có khả năng lựa chọn". Lịch sử là một sự vận động, trong thế tương quan giữa nhiều lực lượng nhằm tìm ra một hợp lực vạch ra con đường đi của nó. Ngay từ đầu, và cho đến bây giờ rồi mãi mãi, hợp lực ấy, vẫn do các cá nhân hiện thực tạo ra mà vẫn không là phụ thuộc vào cá nhân họ. Cần sợi dây liên kết. Và, báo chí là một trong những sợi dây đó.
Gần đây, có người sử dụng thuật ngữ "năng lực xã hội" nhằm chỉ "sức mạnh nội sinh, tổng hợp của toàn xã hội, có khả năng tổ chức các cơ chế tiên tiến để kinh tế phát triển". Để tạo ra được năng lực xã hội ấy thì cần phải có một cơ chế chính sách nhằm phát huy những tố chất cần thiết của những nhóm xã hội khác nhau, nối kết chúng lại để tạo ra sức mạnh tổng hợp. Gắn liền với nội dung trên, lại có một cách diễn đạt khác mà gần đây được nói đến nhiều, đó là “vốn xã hội”, một động lực quan trọng của phát triển. Ai đó đã nói rất hay: “xã hội thâm nhập chúng ta cũng mạnh mẽ như vây bọc chúng ta. Chúng ta lệ thuộc vào xã hội chủ yếu qua sự đồng cảm chứ không phải bị chinh phục... Chúng ta bị mê hoặc bởi bản chất xã hội của riêng chúng ta. Những bức tường xã hội có sẵn trước khi chúng ta ra đời, nhưng cũng được chính chúng ta xây dựng nên. Chúng ta bị giam cầm với chính sự hợp tác của chúng ta”.
“Vốn xã hội” nằm trong sự tác động qua lại giữa những con người ấy, nằm trong sự “giam cầm” với chính sự “hợp tác của chúng ta” ấy! Chỉ có thể tìm thấy “vốn xã hội” trong mối quan hệ giữa người và người trong xã hội. “Vốn xã hội” phong phú hay nghèo nàn, có tác động tích cực hay tiêu cực tùy theo độ tin cậy và tính bền vững của mối quan hệ đó được dẫn dắt bởi những chuẩn mực xã hội được cộng đồng xã hội rộng lớn chấp nhận, và dư luận xã hội tán thành. Ở đây, độ tin cậy trong mối quan hệ giữa người và người là yếu tố quyết định nhất. Tác động vào yếu tố quyết định ấy, báo chí, “cái thế giới ý tưởng không ngừng trào ra từ thực tế hiện thực, lại chảy trở về hiện thực như một dòng thác đầy sinh khí”, giữ một vai trò không gì thay thế được. Báo chí góp phần nâng cao độ tin cậy trong mối quan hệ giữa người và người đó.
Vả chăng, “trong những xã hội mà sự tin cậy nhau không cao, sự tương tác hàng ngang bị thay thế bởi hệ thống hàng dọc áp đặt từ trên xuống thì không có được mấy vốn xã hội, và cũng chẳng có được bao hoạt động của xã hội dân sự”. Không ai khác, chính báo chí tạo ra sự tương tác hàng ngang ấy đồng thời làm cho hệ thống hàng dọc vốn được áp đặt từ trên xuống đó giảm thiểu tính áp đặt và tăng tính tự nguyện, tính thuyết phục. Bằng cách nào? Bằng cách, cùng với việc thực hiện chức năng chuyển tải những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đến với mọi người, những thông điệp từ trên xuống, báo chí thực hiện chức năng chuyển tải những thông tin phản hồi từ dưới lên.
Có thể nói, chuyển tải những thông tin phản hồi từ dưới lên là trách nhiệm xã hội quan trọng nhất của báo chí. Vì sao? Vì, sự vận hành của cuộc sống đã cho thấy rằng mọi sáng tạo đều được nảy sinh từ trong quần chúng, tức là từ cuộc vật lộn khắc nghiệt của con người vươn lên trong cuộc mưu sinh. Tạo cơ hội và điều kiện cho sự sáng tạo đó, thúc đẩy những"tiềm năng" mọi con người trong xã hội, mọi nhóm, mọi giai tầng xã hội, những "tiềm năng" không ai giống ai phát triển, sẽ là một hợp lực cực kỳ to lớn thúc đẩy sự phát triển đất nước. Báo chí có một lợi thế không gì so sánh được trong việc tạo ra cái hợp lực đó. Báo chí thường xuyên gióng lên tiếng chuông cảnh báo về tâm trạng quần chúng, những bức xúc, băn khoăn, những khát khao, kỳ vọng, những buồn vui, phẫn nộ của những “con người bé nhỏ” đang lầm lũi, nhẫn nại và kiên cường trong cuộc mưu sinh cho mình, gia đình mình và góp phần thúc đẩy xã hội đi tới. Không làm được nhiệm vụ tạo nên một luồng chảy sống động của thông tin phản hồi từ cuộc sống "bên dưới", từ "phần chìm của tảng băng", báo chí sẽ tự đánh mất vai trò thật sự của mình.
Vì sao? Vì, nhân dân chính là đồng tác giả của sự nghiệp Đổi Mới, con mắt sáng suốt của tinh thần nhân dân mà những câu chữ trên những trang báo trung thực đã phản ánh có ý nghĩa rất lớn trong việc động viên ý thức công dân tham gia vào sự nghiệp lớn lao, đẩy lùi những khó khăn, những trì trệ bảo thủ, để mạnh dạn và sáng tạo bứt lên trên chặng đường mới.
Đương nhiên, trong quá trình thực hiện vai trò cao cả và cam go đó, những người làm báo trung thực sẽ gặp phải những lực cản không nhỏ. Lực cản đến từ nhiều phía mà nhà báo yếu bóng vía có khi phải rút lui, những ngòi bút can trường thì phải dám trả giá, có khi bị đe dọa đến cả tính mạng. Chuyện các nhà báo bị hành hung chẳng còn xa lạ gì. Thói thường, không mấy ai thích vạch áo cho người xem lưng, không ít những người có chức và đang nắm quyền e ngại những nhà báo biết săn tìm sự thật và biết cách nhìn ra sự thật. Vì thế, hoàn toàn không lạ khi có những nhà chức trách cản trở, thậm chí hăm dọa nhà báo. Đặc biệt là một khi mà thói độc quyền chân lý, áp đặt tư duy và tùy tiện quy kết vẫn còn đất hoạt động, khi mà nhận thức về quyền tự do ngôn luận chưa thật đầy đủ, thì sự cản trở và hăm dọa nhà báo vì những hoạt động hợp pháp của họ là điều dễ hiểu. Khi mà những tàn dư của thói gia trưởng và cửa quyền chưa bị dọn sạch, thì người ta sẽ không hiểu được rằng “trong lĩnh vực báo chí, những người cai trị và những người bị cai trị có khả năng như nhau để phê bình những nguyên tắc và yêu cầu của nhau không phải trong khuôn khổ những quan hệ lệ thuộc, mà trên cơ sở ngang quyền với nhau, với tư cách là những công dân của nhà nước”. (**)
Những nhầm lẫn trong việc nhà báo đưa tin với kết luận chính thức của cơ quan nhà nước trên cùng một sự kiện là ví dụ rất cụ thể. Báo chí không thể làm thay cho những cơ quan chức năng có nhiệm vụ điều tra và kết luận, song báo chí phải tiếp sức cho sự phán đoán của công chúng bằng những thông tin chân thực và kịp thời, báo chí phải khơi dậy ý thức công dân trong mỗi độc giả để họ góp phần đấu tranh cho chân lý. Tính chiến đấu của báo chí thể hiện rõ ở đây. Mà đã là chiến đấu, không thể không có hy sinh. Dõi theo những phóng sự nóng bỏng những thông tin giàu sức cảnh báo, với nội dung truyền cảm đầy tính thuyết phục mà để thu thập được chúng, những người làm báo phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt, cũng không loại trừ khả năng bị đe dọa đến tính mạng, chúng ta hiểu được cuộc chiến đấu trên trận địa này không kém phần cam go. Sự nhanh nhạy trong nắm bắt thông tin, tính chính xác trong nhìn nhận và phân tích sự kiện của một số nhà báo tài năng, thể hiện trên nhiều trang của những tờ báo được công chúng đón chờ, là món ăn tinh thần thực sự bổ ích. Cũng chính vì thế, người đọc thực sự biết ơn những cây bút trung thực và can đảm dám nói lên sự thật cho dù có phải trả giá cho việc đó.
Hàng ngày trên màn truyền hình, thường xuyên có thể bắt gặp những chiếc ống kính nhà báo dõi theo những xung đột máu lửa nóng bỏng vùng Trung Đông. “Tổ chức Các nhà báo không biên giới quốc tế” đã coi những nguy hiểm mà các phóng viên phải đối mặt ở Iraq “vùng đất chết chóc đối với các nhà báo” kể từ khi bắt đầu cuộc chiến năm 2003 là khủng khiếp nhất đối với giới truyền thông kể từ Đại chiến thứ hai. Riêng năm 2006, hơn ba chục nhà báo đã thiệt mạng. Thế nhưng, những nhà báo chân chính vẫn thường xuyên có mặt ở những “vùng đất chết chóc ấy”. Vì, một nhà báo đã diễn đạt một cách đầy xúc cảm: “nhà báo là người chấm ngòi bút vào nỗi đau của nhân loại”.
Nỗi đau ấy đang thấm đẫm trên “vùng đất chết chóc” mà vì sứ mệnh cao cả của báo chí, nhiều nhà báo vẫn đang dấn thân vào. Những ngòi bút ấy hiểu rất rõ rằng: “Viết một bài báo dở, bạn có thể mất việc, Viết một bài báo hay, bạn có thể mất mạng”. Nhưng, không chỉ nơi “vùng đất chết chóc” ấy mới có nỗi đau. Ở khắp nơi trên trái đất này, nỗi đau của con người chẳng có lúc nào vơi. Ở khắp nơi, nước mắt con người đều cùng có vị mặn, máu con người đều cùng có màu đỏ, nhưng nguyên nhân làm cho nước mắt phải rơi, máu phải chảy, thì thiên hình vạn trạng, làm sao kể xiết.
Chỉ gợi lên một chuyện mà báo chí vừa đưa: trên đất nước của tốc độ phát triển nóng nhất hành tinh, Trung Quốc, người ta vừa thực hiện được một cuộc “giải phóng nô lệ” gồm 568 người, kể cả trẻ em, từ những cuộc truy quét nhiều địa điểm, nơi có các lò gạch và mỏ than đã cưỡng bức các “nô lệ” làm việc với một chế độ lao động còn dã man hơn thời trung cổ, do các băng tội phạm chuyên buôn người để cung ứng cho “nguồn lao động nô lệ” đó. Đây không chỉ là nỗi đau của những người bị cưỡng bức làm nô lệ, mà là một nỗi đau nhân thế từ vết thương xã hội đáng sợ đó. Cần lưu ý rằng, Trung Quốc là nước có số lượng báo xuất bản nhiều nhất thế giới, với 98,7 triệu tờ báo mỗi ngày! Đương nhiên, không chỉ có đất nước dân số đông nhất thế giới có hiện tượng “giải phóng nô lệ” đó. Ví dụ nói trên chỉ nhằm nói lên rằng, báo chí còn phải chiến đấu trên nhiều trận tuyến để làm giảm bớt đi nỗi đau của con người. Báo chí chân chính phải “là con mắt sáng suốt của tinh thần nhân dân”.
Ngày báo chí năm nay đến trong bối cảnh Quốc hội khóa XII đang chuẩn bị cho một nhiệm kỳ với trách nhiệm hết sức nặng nề. Báo chí phải là một lực lượng hùng hậu phấn đấu thực hiện sứ mệnh cao cả làm “sợi dây liên hệ biết nói”, gắn kết cử tri, mọi tầng lớp nhân dân với Quốc hội, với đại biểu Quốc hội, để cùng vươn lên hoàn thành sự nghiệp phát triển đất nước trong bối cảnh mới có nhiều thuận lợi chưa từng có, song cũng không thiếu những thử thách gay gắt chưa có tiền lệ.
Tương Lai
*. Xem “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước”. Báo NĐBND số ra ngày 1.6.2007
** C.Mác và Ph.Angghen toàn tập. Tập I. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr.237; tr.291; tr.100