Cụ thể, có thời gian khảo sát thực tế, nghiên cứu chủ trương chính sách, xây dựng dự thảo, trong đó dành ít nhất 7 ngày để cơ quan, tổ chức, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp nghiên cứu, tham gia ý kiến; Tiếp thu, chỉnh lý, chuyển đến Sở Tư pháp chậm nhất là 30 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND. Thành viên UBND có ít nhất 3 ngày nghiên cứu trước khi họp UBND tỉnh. Ban HĐND có ít nhất 10 ngày thẩm tra văn bản. Đại biểu HĐND có 5 ngày nghiên cứu dự thảo nghị quyết.
Thực tế, có địa phương Thường trực HĐND đã chủ động trình HĐND tỉnh quyết định cơ quan soạn thảo nghị quyết ngay từ đầu năm; Trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND gần 3 tháng, yêu cầu UBND tỉnh rà soát việc chuẩn bị chuyên đề để điều chỉnh. Tuy nhiên, việc thực hiện thường chậm, sát ngày thống nhất dự kiến chương trình kỳ họp HĐND mới đăng ký và không nêu cơ sở điều chỉnh, bổ sung chuyên đề; Thậm chí còn bổ sung sau hội nghị thống nhất dự kiến chương trình kỳ họp. Một số cơ quan thực hiện quy trình soạn thảo nghị quyết một cách hình thức, không lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức liên quan. Ý kiến phản biện, giải trình thiếu thuyết phục, còn “bảo thủ”, có nội dung phản biện của các ban HĐND không được giải trình tại kỳ họp; Bỏ qua quy định thành viên UBND nghiên cứu dự thảo nghị quyết trước khi UBND họp 3 ngày. Các ban HĐND tổ chức thẩm tra chủ yếu dựa trên văn bản trình, chưa chú trọng khâu khảo sát, phản biện... Vì vậy, dự thảo nghị quyết trình HĐND chất lượng thấp, sai thể thức, thiếu căn cứ; Nội dung chung chung... Để đưa nghị quyết vào cuộc sống, UBND phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hoá; Có nội dung phải vận dụng phương thức “HĐND giao UBND thống nhất với Thường trực HĐND trước khi thực hiện và báo cáo với HĐND tại kỳ họp gần nhất”.
Có chuyên đề được chuẩn bị đúng kế hoạch nhưng quan điểm của Ban HĐND và UBND khác nhau, trường hợp này, Thường trực HĐND tỉnh xây dựng chương trình kỳ họp theo hướng vừa tổ chức thảo luận trước kỳ họp tại Tổ đại biểu HĐND ở đơn vị hành chính, vừa tổ chức thảo luận Tổ tại kỳ họp theo hướng ghép các Tổ đại biểu HĐND có ý kiến khác nhau để trực tiếp trao đổi, làm rõ một số nội dung trước khi thảo luận tại hội trường. Khi thông qua nghị quyết, đại biểu tiếp tục thảo luận những vấn đề còn có ý kiến khác nhau để biểu quyết trước khi biểu quyết toàn văn dự thảo nghị quyết. Trường hợp chuẩn bị chưa bảo đảm thì yêu cầu soạn thảo lại; Trường hợp vẫn không đạt yêu cầu thì quyết định gửi hồ sơ để đại biểu HĐND nghiên cứu, cho ý kiến tại kỳ họp và giao cơ quan soạn thảo tiếp thu, hoàn chỉnh dự thảo để trình kỳ họp sau.
Với quy trình trên, các nghị quyết trình HĐND có thể gửi chậm so với thời hạn quy định nhưng công tác soạn thảo được chuẩn bị kỹ; Các Ban HĐND đảm nhận thẩm tra năng động và chủ động thực hiện nhiệm vụ ngay từ khâu đầu của quy trình; Ý kiến phản biện khi soạn thảo được cơ quan chuẩn bị tiếp thu, hoàn chỉnh trước khi trình HĐND... nên khi biểu quyết không còn nảy sinh ý kiến khác với cơ quan soạn thảo. Quan trọng hơn cả là nội dung nghị quyết sẽ rõ ràng, có hiệu lực là áp dụng ngay được. Cũng có trường hợp, dự thảo nghị quyết được đa số thành viên UBND thống nhất phương án trình HĐND, được Ban HĐND nhất trí, nhưng khi thảo luận tại kỳ họp, đại biểu HĐND là Uỷ viên UBND phản biện phương án UBND trình với cơ sở pháp lý và thực tiễn rõ ràng, có sức thuyết phục... nên HĐND đã biểu quyết thống nhất phương án đại biểu HĐND nêu.
Thực tế trên cho thấy, các bước soạn thảo nghị quyết HĐND được thực hiện đúng quy trình, thảo luận kỹ và thống nhất cao với các cơ quan, tổ chức có liên quan, trước khi trình HĐND là cơ sở quyết định chất lượng và bảo đảm để nghị quyết đi vào cuộc sống.