Tin, bài mới nhận:  
Thứ Bẩy, ngày 31/07/2010   
 
 THÔNG TIN CẦN BIẾT
 TÒA SOẠN CỦA BẠN

bannertoasoan.jpg

Thực tế, UBTVQH hiểu vì sao khung thuế suất rộng
15/09/2009
Thẩm quyền quyết định mức thuế suất cụ thể đối với từng nhóm tài nguyên nên để QH hay giao cho Chính phủ là phù hợp? Sẽ thuận lợi và linh hoạt cho công tác điều hành của Chính phủ, nếu mức thuế suất cụ thể này vẫn giao cho Chính phủ (như quy định hiện hành). Còn, QH sẽ tập trung quyết định khung thuế suất. Lý lẽ của Bộ Tài chính - cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật Thuế tài nguyên - là thế. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của cơ quan thẩm tra, Thường trực UB Tài chính - Ngân sách cho rằng, trước mắt QH có thể chỉ dừng ở việc quyết định khung thuế suất. Nhưng, việc quy định mức thuế suất cụ thể đối với từng loại tài nguyên nhất định phải do UBTVQH quyết định.

Nhiều Ủy viên UBTVQH đồng thuận với quan điểm này và chỉ rõ, không nên để Chính phủ hoặc Bộ quy định mức thuế suất cụ thể. Bởi, thuế suất là nội dung cơ bản của một đạo luật về thuế, vậy thì thẩm quyền quyết định nên để QH. Và, trong điều kiện hiện nay, khi việc tổng kết, đánh giá quá trình áp dụng thuế suất tài nguyên đối với mỗi loại tài nguyên còn chưa đầy đủ; thị trường tài nguyên còn nhiều biến động thì nên quy định theo hướng, Chính phủ trình UBTVQH quyết định. Việc UBTVQH quyết định mức thuế suất cụ thể nhằm bảo đảm tính hợp hiến trong quyết định các vấn đề về thuế.

Trở lại với vấn đề khung thuế suất do QH quy định, theo dự thảo Luật, khung thuế suất được áp dụng theo các nhóm tài nguyên với biên độ khá lớn. Trong đó, có những nhóm như nhóm sản phẩm rừng tự nhiên, khung thuế suất đối với gỗ dao động từ 10 - 40%; nhóm khoáng sản kim loại là từ 5- 30%; nhóm khí đốt từ 0 - 25%... Chủ nhiệm UB Kinh tế Hà Văn Hiền đề nghị cơ quan soạn thảo giải trình thêm tại sao lại để khoảng dài như vậy trong cùng một khung thuế suất? Với biên độ rộng như vậy, lấy tiêu chí nào để bảo đảm chắc chắn rằng, không xảy ra tình trạng áp thuế thiếu công bằng, tạo ra sự chênh lệch lớn trong cùng một nhóm hàng tại các thời điểm khác nhau? Thường trực UB Tài chính - Ngân sách cho rằng, việc mở rộng khung thuế suất tuy tạo sự linh hoạt, song lại không bảo đảm tính chặt chẽ trong việc áp thuế suất, có thể dẫn tới áp thuế suất không công bằng, tạo chênh lệch lớn trong cùng một nhóm hàng và ở vào những thời điểm khác nhau. Hay, như cách đặt vấn đề của Trưởng ban Dân nguyện Trần Thế Vượng là nếu để khung thuế suất quá rộng thì sẽ rất khó trong áp dụng Luật, có khả năng tạo sự sơ hở và dẫn tới những việc không bảo đảm sự thống nhất, thậm chí là tùy tiện.

Thuế suất là nội dung cơ bản của một đạo luật về thuế. Thuế thường gắn trực tiếp đến quyền lợi của người dân, doanh nghiệp... Vậy thì không có lý gì thẩm quyền quyết định thuế suất, trong đó bao gồm cả khung thuế suất và mức thuế suất cụ thể lại không do QH, UBTVQH quyết định. Không chỉ bởi theo Hiến pháp QH quyết định mọi vấn đề về thuế mà thiết thực hơn, đối với các nội dung liên quan đến thuế, nếu được quy định cụ thể trong Luật thì người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ rất yên tâm. Và Luật sau khi ban hành có thể triển khai thực hiện được ngay, tránh tình trạng Luật phải chờ Nghị định, Thông tư hướng dẫn.

Giải trình về việc tại sao lại để khung thuế suất rộng như vậy, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh cho rằng, sở dĩ lại để khung rộng như vậy trước hết là để bảo đảm tính linh hoạt của công tác điều hành thuế suất... và mong muốn không nên ghi cứng mức thuế suất trong Luật. Cách giải trình này có hoàn toàn hợp lý và là phương án có lợi nhất cho người dân, cho doanh nghiệp, nhất là những đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật? Theo Trưởng ban Dân nguyện Trần Thế Vượng thì, không ảnh hưởng đến tính linh hoạt trong công tác điều hành kinh tế vì UBTVQH mỗi tháng họp một lần. Trong trường hợp Chính phủ thấy cần điều chỉnh mức thuế suất thì Chính phủ có thể trình UBTVQH sửa, nhanh thôi, chứ không có gì khó cả.

Luật chỉ quy định thuế suất - nội dung cơ bản của một đạo luật về thuế - mang tính chất khung và biên độ dao động lớn khó có thể bảo đảm rằng, Luật sau khi ban hành sẽ được áp dụng thống nhất. Chủ nhiệm UB Tài chính - Ngân sách đề nghị, Ban soạn thảo cần xem xét, thu hẹp biên độ khung thuế suất, phân loại từng sản phẩm trong cùng một nhóm sản phẩm để quy định khung thuế suất riêng biệt, bảo đảm không mở quá rộng khung thuế suất, nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu điều tiết việc khai thác tài nguyên.

Có như vậy mới không tạo sự mất công bằng hay chênh lệch quá lớn khi áp dụng Luật.

Không riêng với dự án Luật Thuế tài nguyên, đã là Luật - văn bản có giá trị pháp lý cao - nên được áp dụng thống nhất.

Thực tế cho thấy, khung thuế suất càng lớn bệnh cửa quyền càng lớn và, cơ chế xin - cho là phổ biến. Đặc quyền, đặc lợi cũng bắt đầu từ đây.

QH, UBTVQH chắc chắn đã có quá nhiều kinh nghiệm về những việc tương tư thế này. Nhưng, nói trắng ra không thì cơ quan soạn thảo dự án Luật cần tự hiểu.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh: “Ghi cứng” trong Luật có cái dở là rất khó trong công tác điều hành (?)

Về khung thuế suất cụ thể đối với từng nhóm tài nguyên, tại sao lại để rộng như thế trước hết là vì, trong thực tiễn công tác điều hành, khung thuế biến động rất lớn và phụ thuộc vào giá tính thuế. Giá tính thuế của chúng ta lại phụ thuộc vào thị trường. Thị trường ở đây có cái trong nước và có cái ngoài nước. Ví dụ như tính thuế than vừa rồi, chúng ta đưa ra cả mức sàn và mức trần. Sau đó, có điều chỉnh từng bước để nâng lên. Ở thời điểm đầu năm 2008, khi giá than lên rất cao, chúng ta nâng mức thuế suất tài nguyên này ở cả thuế xuất khẩu và thuế tài nguyên nhằm điều chỉnh lợi ích cho nhà nước. Nhưng, sang đến năm 2009, giá than lại xuống rất thấp. Nếu chúng ta giữ nguyên mức thuế suất cao thì doanh nghiệp lại bị lỗ, do vậy, chúng ta lại phải điều chỉnh xuống. Đấy là tính linh hoạt của điều chỉnh. Nếu ghi cứng trong Luật là QH hoặc UBTVQH quyết định thì có cái dở là rất khó trong công tác điều hành.

Điểm thứ hai đúng là bản thân khung thuế suất đối với các nhóm tài nguyên đưa vào trong dự thảo Luật chưa được chi tiết lắm. Cho nên có những nhóm tài nguyên có khung thuế suất rất rộng. Ví dụ như nhóm tài nguyên gỗ các loại, có những sản phẩm, chúng ta đánh tới 40%, nhưng có sản phẩm chúng ta chỉ đánh có 5%. Sau này, chúng tôi nghiên cứu có thể là phân nhóm tài nguyên chi tiết hơn và cố gắng đưa vào Luật nhiều hơn thì tốt, chứ về khung thuế suất đối với nhóm tài nguyên là tương đối rộng. 

Thanh Tâm
  
Gửi bài này Bản in

 BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
HCM1.jpg
Trang chủ | Liên hệ | Quảng cáo | Giới thiệu