Cần thấy rằng, Quốc hội Khoá VIII (1987- 1992) hoạt động trong điều kiện đất nước mới bước vào giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Đây là thời kỳ chuyển mình có ý nghĩa cơ bản trong hoạt động của Quốc hội, nhưng Quốc hội Khóa VIII cũng chỉ mới tập trung cho việc xây dựng pháp luật với việc thông qua 32 luật, bộ luật (bằng tổng số các luật, bộ luật được Quốc hội 7 khóa trước đó thông qua) và 12 nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật. Các hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH giữa hai kỳ họp chưa được chú ý với những quy định mang tính khuyến cáo như Đoàn cần có kế hoạch nắm tình hình địa phương, thu thập ý kiến và nguyện vọng của cử tri... cần tổ chức những cuộc tiếp xúc với nhân dân ở địa phương hoặc cơ sở sản xuất... cần có phòng tiếp dân... (Quy chế về ĐBQH năm 1987). Từ Quốc hội Khóa VIII trở về trước, các Đoàn ĐBQH chưa có Thư ký giúp việc.
Quốc hội khóa IX (1992- 1997) được đánh dấu là khóa Quốc hội góp phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước CHXHCNVN thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách của Quốc hội Khóa IX là rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành, từng bước xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản đã ban hành, làm cho hệ thống pháp luật phù hợp với Hiến pháp 1992, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội bằng pháp luật. Việc đẩy mạnh hoạt động lập pháp thời kỳ này đặt ra rất cao nên Quốc hội đã thông qua được 41 luật, bộ luật và 8 Nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH và tổ chức, hoạt động của Đoàn ĐBQH cũng được Quốc hội khóa IX đặt ra cụ thể hơn trong Quy chế Hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH năm 1993. Theo Quy chế này, Đoàn ĐBQH phải xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động sáu tháng hoặc cả năm của Đoàn; Giữa hai kỳ họp Quốc hội phải tổ chức lấy ý kiến xây dựng các dự án luật, pháp lệnh; Tổ chức các hoạt động khảo sát, kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các quyết định, chỉ thị của Chính phủ ở địa phương; Tổ chức tiếp dân định kỳ, nhận và chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, theo dõi, đôn đốc, yêu cầu các cơ quan hữu quan xem xét, giải quyết đơn thư; Tổ chức tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp Quốc hội để thu thập ý kiến, nguyện vọng của nhân dân địa phương gửi Quốc hội hoặc phổ biến các nghị quyết, luật và những quyết định mà Quốc hội đã thông qua.
Do đó, đã đến lúc không thể không đặt ra bộ phận giúp việc cho Đoàn đại biểu Quốc hội là Thư ký chuyên trách. Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH năm 1993 quy định, Thư ký chuyên trách là "cán bộ có năng lực và phẩm chất tốt" để thực hiện 6 nhiệm vụ, quyền hạn: (1) Giúp Trưởng Đoàn sắp xếp công việc, lập chương trình hoạt động của Đoàn; (2) Giúp Trưởng Đoàn theo dõi, tổng hợp tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân; Được ký chuyển các đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan yêu cầu xem xét, giải quyết hoặc những văn bản giấy tờ khác do Trưởng đoàn uỷ quyền; (3) Ghi biên bản các cuộc họp của Đoàn ĐBQH; (4) Giúp Trưởng đoàn và các đại biểu trong Đoàn thực hiện chương trình làm việc và những quy định về kỳ họp Quốc hội theo nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 18 của Nội quy kỳ họp Quốc hội; (5) Tổng hợp tình hình hoạt động của Đoàn ĐBQH, giúp Trưởng Đoàn làm báo cáo và thông báo về tình hình hoạt động sáu tháng hoặc cả năm của Đoàn gửi đến các cơ quan quy định tại Điều 28, 31 của Quy chế này; (6) Giúp ĐBQH chuyên trách trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình.
Muốn thực hiện tốt các nhiệm vụ trên đây, Thư ký chuyên trách không đơn thuần là người giúp việc, mà còn làm nhiệm vụ tham mưu, đề xuất với những phẩm chất chính trị và tiêu chuẩn về trình độ phân tích, tổng hợp, về kinh nghiệm hoạt động thực tiễn và những kỹ năng, nghiệp vụ văn phòng. Tuy nhiên, do chưa có những quy định của UBTVQH về lương, chế độ và các vấn đề khác liên quan đến việc quản lý, đào tạo Thư ký, nên không mấy Đoàn ĐBQH có Thư ký chuyên trách. Nhiều Đoàn ĐBQH sử dụng Thư ký theo hình thức nếu Trưởng đoàn là nam thì một chuyên viên nam của Văn phòng UBND tỉnh sẽ được cử làm Thư ký; Nếu đại biểu nữ làm Trưởng đoàn thì một chuyên viên nữ làm Thư ký. Nếu Trưởng đoàn là Bí thư Tỉnh uỷ thì chắc chắn Thư ký riêng của Bí thư Tỉnh uỷ sẽ kiêm nhiệm làm Thư ký Đoàn ĐBQH. Một số Đoàn ĐBQH trong nhiệm kỳ Khóa IX thay đổi đến 3 Thư ký làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, nên Thư ký chủ yếu chỉ tập trung phục vụ Đoàn ĐBQH tại các kỳ họp Quốc hội, các hoạt động khác giữa hai kỳ họp khó có điều kiện để tổ chức vì không có Thư ký chuyên trách.
Phải đến đầu Quốc hội Khóa X, UBTVQH ban hành Quy chế hoạt động của Thư ký Đoàn ĐBQH (Nghị quyết số 236 NQ/2001/UBTVQH10 ngày 19.9.2001), các Đoàn ĐBQH mới có có cơ sở pháp lý để tuyển dụng Thư ký chuyên trách. Và do nhu cầu công việc, nhiều Đoàn ĐBQH tuyển dụng 2, thậm chí 3 hoặc 4 Thư ký để giúp Đoàn ĐBQH tăng cường các hoạt động tiếp dân, tiếp xúc cử tri, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, tổ chức lấy ý kiến xây dựng luật và các hoạt động giám sát, khảo sát tình hình giữa hai kỳ họp Quốc hội.
Hoạt động của Đoàn ĐBQH được tăng cường là một trong những nguyên nhân giúp cho Quốc hội Khóa X (1997- 2002) đạt được những thành tựu quan trọng trên cả ba lĩnh vực lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Trong đó, hoạt động lập pháp chuyển biến cả về chất và lượng, đã thông qua được 35 luật, bộ luật và 10 Nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật với chất lượng được nâng lên cả về nội dung và hình thức. Nhiều dự án luật, bộ luật quan trọng, liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được công bố để lấy ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân trước khi Quốc hội xem xét, thông qua.
Quốc hội khóa XI (2002- 2007) có những đổi mới, cải tiến mang tính đột phá. Lần đầu tiên tất cả các Đoàn ĐBQH đều có ĐBQH hoạt động chuyên trách tại địa phương. QH xem xét thông qua luật tại một hoặc hai kỳ họp; Phát huy vai trò, trách nhiệm của các ĐBQH chuyên trách thông qua hội nghị ĐBQH chuyên trách để thảo luận, góp ý kiến hoàn thiện dự thảo luật; Đa dạng hoá các hình thức tổ chức lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của luật, pháp lệnh. Và, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội được ban hành năm 2003, làm khởi sắc một hoạt động từ lâu bị coi là khâu yếu của Quốc hội.
Song song với những đổi mới, cải tiến trong hoạt động của Quốc hội, ngày 25.9.2003 UBTVQH ban hành Nghị quyết 416 NQ/UBTVQH11 quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế của Văn phòng Đoàn ĐBQH, tạo bước ngoặt trong việc tổ chức bộ phận phục vụ Đoàn ĐBQH. Tuy biên chế của Văn phòng này không nhiều, chỉ có từ 4 đến 6 chuyên viên, nhưng thực tiễn cho thấy địa phương nào tổ chức được bộ máy giúp việc theo đúng Nghị quyết 416, hoạt động của Đoàn ĐBQH địa phương đó phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu, khắc phục đáng kể tính hình thức trong hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH, nhất là trong các hoạt động giám sát, tiếp xúc cử tri, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân và hoạt động lấy ý kiến xây dựng các dự án luật.
Với Nghị quyết 416, các Đoàn ĐBQH từ việc tự tổ chức hoạt động, đến việc sử dụng Thư ký giúp việc hoạt động kiêm nhiệm, sau đó tuyển dụng Thư ký chuyên trách và cuối cùng là có một bộ máy giúp việc độc lập, hưởng lương từ kinh phí hoạt động của Đoàn ĐBQH. Hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH khi có Văn phòng riêng ngày càng đi vào thực chất hơn, đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân được xử lý theo đúng quy định của pháp luật, góp phần giải quyết tình trạng khiếu kiện gay gắt, kéo dài ở địa phương; Nhiều vấn đề về cơ chế, chính sách và pháp luật chưa phù hợp với thực tiễn được các Đoàn ĐBQH phát hiện, kiến nghị kịp thời thông qua các hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH; Hoạt động lấy ý kiến xây dựng các dự án luật, pháp lệnh tại địa phương được tổ chức ngày càng có hiệu quả, góp phần nâng cao tính khả thi của các văn bản pháp luật do Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Vai trò, vị trí của ĐBQH trong xã hội ngày càng được khẳng định.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa X (tháng 2.2007) về việc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng về đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội, Văn phòng Đoàn ĐBQH đã sáp nhập vào Văn phòng HĐND tỉnh. Nghị quyết 545/2007/UBTVQH12 ngày 11.12.2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh có 3 phòng chuyên môn, trong đó có Phòng công tác ĐBQH và Phòng công tác HĐND tỉnh là một chủ trương phù hơp, có thể kết hợp được những mặt mạnh, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức và các điều kiện vật chất hiện có để làm tốt hơn công tác tham mưu, phục vụ, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Đoàn ĐBQH và của HĐND tỉnh. Hợp nhất hai Văn phòng nhưng không "hoà tan" như quy định của Nghị quyết 545 vừa phát huy kinh nghiệm, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, công chức hai Văn phòng, vừa bảo đảm triển khai thực hiện đầy đủ các chức năng, thẩm quyền của ĐBQH và Đoàn ĐBQH giữa hai kỳ họp Quốc hội, nhất là trong các hoạt động giám sát việc thi hành pháp luật, đấu tranh chống tham nhũng và giám sát văn bản quy phạm pháp luật của địa phương.
Từ một, hai Thư ký chuyên trách đến Phòng công tác ĐBQH trong Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh là sự phát triển hợp quy luật để ĐBQH trở thành những người đại diện thực sự của nhân dân.