
Cô dâu người Việt Nam Nguyễn Thị Hồng Phượng đang hy vọng tìm kiếm câu trả lời khi quyết định kết hôn với một người đàn ông Đài Loan 4 năm trước. “Tôi muốn tìm gặp người chồng cũ của chị gái tôi ở Đài Loan và hỏi tại sao anh ta lại đối xử với chị ấy như vậy”. Chị gái của Phượng đã phải trở về Việt Nam cùng cậu con trai sau khi ly dị chồng.
May mắn là cuộc sống của Phượng ở Đài Loan tốt hơn chị mình. Cô gái 24 tuổi đã lấy một người Đài Loan lớn hơn cô 2 tuổi mà cô mới chỉ biết chưa đầy hai tuần, thông qua công ty mai mối.
Phượng là một trong số đông những cô dâu đến từ Trung Quốc đại lục và các vùng khác, đặc biệt là Đông Nam Á, những người đang dần làm thay đổi cơ cấu chủng tộc ở một xã hội khá thuần nhất như Đài Loan.
Bắt đầu từ cuối thập niên 1990, những cuộc hôn nhân kiểu này đã trở thành khuynh hướng phổ biến ở Đài Loan. Năm ngoái, một trong 6 cuộc hôn nhân ở Đài Loan có vợ là người nước ngoài. Mặc dù những phụ nữ như vậy hiện chiếm ít hơn 2% trong tổng số 23 triệu dân của hòn đảo nhưng khuynh hướng này đang ảnh hưởng ngày càng sâu sắc hơn đối với nhân khẩu học ở Đài Loan.
Năm 1998, con của các cặp vợ chồng như vậy - được gọi là “đứa trẻ mới của Đài Loan” - chiếm 1/20 số trẻ ra đời. Năm ngoái, tỷ lệ này đã tăng lên gấp đôi, nghĩa là cứ 9 đứa trẻ mới sinh thì có 1 là “đứa trẻ mới của Đài Loan”.
Khuynh hướng này đã thu hút sự quan tâm của chính quyền Đài Loan. Đầu năm nay, giới chức trách đã có động thái mới là thiết lập một Cơ quan Di trú Quốc gia (National Immigration Agency) để phân bổ hợp lý người nhập cư và các thủ tục liên quan đến thị thực. Trước đây, dân nhập cư mới phải qua lại như con thoi giữa các phòng ban khác nhau để có được sự trợ giúp và hồ sơ cần thiết.
Năm 2005, chính quyền Đài Loan đã thông báo sẽ chi 90,57 triệu USD trong vòng 10 năm để đáp ứng nhu cầu của dân nhập cư mới. Một sáng kiến khác là Cơ quan Dân nhập cư Mới thành phố Đài Bắc đã đưa ra các chương trình như dạy học tiếng Quan Thoại và đào tạo nghề cho những cô dâu không phải người Trung Quốc... Chính quyền Đài Loan cũng cấp vốn cho các tổ chức dân sự như Quỹ Pearl S. Buck, nơi điều hành các đường dây trợ giúp bằng các thứ tiếng khác nhau.
Tuy nhiên, các cô dâu nước ngoài vẫn mong muốn chính quyền hành động nhiều hơn, chẳng hạn như rút ngắn thời gian chờ nhập tịch và kêu gọi áp dụng thêm các luật lệ bảo hộ cho họ.
Các cô dâu đến từ Đông Nam Á phải ở lại Đài Loan 4 năm trước khi đủ tư cách trở thành công dân lãnh thổ này. Còn thời gian chờ đợi của những phụ nữ từ Trung Quốc đại lục là 8 năm. Giáo sư trường Đại học Shih Hsin, bà Hsia Hsiao-chuan cho biết: “Đài Loan hiện không có quy chế cư dân vĩnh viễn để mang lại những quyền lợi nhất định cho cô dâu nước ngoài trước khi họ trở thành công dân chính thức của Đài Loan”.
Tuy vậy, mối lo lắng lớn hơn mà họ phải đối mặt là sự thành kiến. Nhiều người Đài Loan xem họ như đẳng cấp dưới, đánh giá họ là những “cô dâu đặt hàng” thuộc giai tầng kinh tế xã hội thấp hơn... Một cuộc khảo sát năm 2004 do Academia Sinica, học viện nghiên cứu hàng đầu Đài Loan, tiến hành cho thấy rằng, khoảng 80% dân Đài Loan muốn chính quyền hạn chế trao quyền công dân cho cô dâu nước ngoài.
"Hầu hết người Đài Loan, trừ những người thổ dân, đều là dân nhập cư tới hòn đảo này. Tuy nhiên, Đài Loan không nhìn nhận mình như một xã hội nhập cư và do đó xuất hiện sự thành kiến thông thường đối với người nước ngoài”, Giáo sư Hsia Hsiao-chuan nói. Bà Hsia Hsiao-chuan là thành viên sáng lập của Hiệp hội Chị em Xuyên Á (TransAsia Sisters Association), tổ chức trợ giúp những cô dâu người Đông Nam Á.
Điều khiến những cô dâu nước ngoài trăn trở nhiều hơn là con cái của họ có thể như Chou Tsan-der nói hồi năm 2004: “Cô dâu nước ngoài không nên sinh nhiều con”, ám chỉ rằng những đứa trẻ này sẽ là “đẳng cấp dưới”.
Khánh Linh
Theo The Straits Times