Trong gói giải pháp tổng lực kiềm chế lạm phát của Chính phủ vừa qua, có biện pháp tăng cường phát hành trái phiếu Chính phủ mà mục đích của nó, trích nguyên văn, là “hút tiền vào để chi tiêu mà không phải phát hành lượng tiền mặt rất lớn vào lưu thông”, và “Có thể coi phát hành trái phiếu Chính phủ trong thời điểm hiện nay là biện pháp thu hút tiền ngoài thị trường nhanh nhất và có ý nghĩa nhất”.
Có thể nói ngay, quan điểm trên có thể đem lại hậu quả nghiêm trọng cho việc chống lạm phát. Thứ nhất, nếu phát hành trái phiếu Chính phủ chỉ cho các nhà đầu tư trong nước mua thì có thể lượng tiền mặt trong lưu thông (tổng cung tiền) không đổi, đúng như nhận định trên, vì tiền có trong lưu thông chỉ dịch chuyển từ tài khoản của những nhà đầu tư cá nhân (hoặc tổ chức) sang tài khoản của Chính phủ (tức Kho bạc Nhà nước) để Chính phủ sử dụng cho các chi tiêu của mình. Nhưng thực tế là, nhà đầu tư vào trái phiếu Chính phủ không chỉ có ở trong nước mà còn có một bộ phận lớn hơn là nhà đầu tư nước ngoài. Quan trọng hơn, họ mang ngoại tệ (USD) vào trong nước, đổi ra nội tệ (tại các ngân hàng thương mại) để mua trái phiếu, với số vốn mà một số người ước tính lên tới 5 tỷ USD. Vậy ai là người mua cuối cùng số ngoại tệ này? Chính là Ngân hàng Nhà nước. Và tức là rốt cuộc thì cung tiền đồng sẽ phải tăng tương ứng! Thế thì làm sao mà có thể nói là “không phải phát hành một lượng tiền mặt rất lớn vào lưu thông”?
Thứ hai, cho dù nếu sắp tới Chính phủ sửa đổi lại quy định về việc đầu tư vào trái phiếu của mình, chỉ cho phép nhà đầu tư nội địa được mua (trên ý nghĩa là để tránh luồng tiền của nhà đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam lợi dụng chênh lệch về lãi suất và sự lên giá của nội tệ, đồng thời gây áp lực tăng lạm phát do phải trung hòa luồng ngoại tệ này ở Ngân hàng Nhà nước) thì việc phát hành như vậy sẽ “cào” bớt vốn đầu tư đổ vào khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân (vì tổng cung vốn không đổi). Kết cục là, trong khi tăng trưởng ở khu vực Nhà nước có thể tăng lên do được rót thêm vốn huy động từ trái phiếu Chính phủ, thì tăng trưởng ở khu vực kinh tế tư nhân (dân doanh) lại giảm đi vì một phần vốn lẽ ra chảy vào khu vực này lại bị Chính phủ thu hút vào khu vực kinh tế Nhà nước bằng trái phiếu an toàn và có lãi suất hấp dẫn hơn. Như vậy, tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế không những không tăng lên mà còn giảm đi, vì thông thường đầu tư vào khu vực Nhà nước mang lại hiệu quả kém hơn nhiều so với vào khu vực tư nhân. Và cũng như vậy thì một mục đích quan trọng mà phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm đến là tăng cung để giảm áp lực lạm phát trở nên bất khả thi.
Thứ ba, phát hành trái phiếu Chính phủ không phải là biện pháp thu hút tiền, theo như nhận định nói trên. Cũng như tác giả bài viết này đã từng lập luận, Chính phủ phát hành trái phiếu để thu tiền về Kho bạc, nhưng không phải là để tiền nằm chết trong két sắt của Kho bạc mà lại đem giải ngân (chi tiêu) tiền huy động được vào các dự án của mình. Điều này đồng nghĩa với việc ném tiền trở lại lưu thông, và tổng cung tiền, hay lượng tiền có trong lưu thông, đâu có suy giảm gì? Chừng nào tiền còn nằm trong két của Kho bạc thì mới có thể nói biện pháp phát hành trái phiếu là biện pháp hút tiền nhanh nhất. Nếu không phải vậy (và thực tế là Chính phủ lại đang ra sức thúc đẩy tốc độ giải ngân, tức là rút ngắn thời gian tiền nằm chết ở Kho bạc) thì sao có thể nói biện pháp hút tiền này là có ý nghĩa (chống lạm phát), mà lại còn được nhấn mạnh là “có ý nghĩa nhất”?
Trong tình hình lạm phát đang tăng cao và mọi nỗ lực đang được thi hành để kiềm chế lạm phát thì biện pháp tăng cường phát hành trái phiếu Chính phủ và giải ngân nguồn vốn này một biện pháp phản tác dụng. Rất mong Quốc hội nhìn nhận rõ vấn đề để có những biện pháp.
Ts Phan Minh Ngọc