Tin, bài mới nhận:  
Thứ Sáu, ngày 03/09/2010   
 
 THÔNG TIN CẦN BIẾT
 TÒA SOẠN CỦA BẠN

bannertoasoan.jpg

Không có cuộc tấn công tiền tệ mang tính đầu cơ ở Việt Nam
31/05/2008
Một số chuyên gia mới đây bày tỏ lo ngại rằng, trong tình trạng rối ren về chính sách lãi suất và tỷ giá như hiện nay tại Việt Nam thì nguy cơ xảy ra một cuộc tấn công tiền tệ của những nhà đầu cơ nước ngoài là rất cao. Kết cục là một cuộc khủng hoảng tài chính với cuộc tháo chạy của các nhà đầu tư và đầu cơ nước ngoài khi VND bị phá giá không kiểm soát. Vậy khả năng đổ vỡ và khủng hoảng xảy ra theo kịch bản này là như thế nào?

      Cơ chế tấn công tiền tệ của các nhà đầu cơ nước ngoài thường là như sau: Ngân hàng trung ương tuyên bố (hoặc ngầm định) giữ tỷ giá cố định hoặc biên độ trong  một biên độ giao động hẹp. Nếu các nhà đầu cơ tin/kỳ vọng rằng đồng nội tệ đang bị định giá cao hơn giá trị thực (tức là phải bị phá giá hơn nữa) so với USD, và nếu họ biết rõ về khả năng can thiệp vào tỷ giá của ngân hàng trung ương thông qua sử dụng quỹ dự trữ ngoại tệ của mình là có hạn, thì họ sẽ tấn công vào cơ chế neo giữ tỷ giá này bằng cách liên tục vay bằng nội tệ (VND) rồi mua USD tại nước sở tại (Việt Nam) theo tỷ giá trên thị trường ngoại hối chính thức. Vì cầu USD tăng lên nên ngân hàng trung ương phải bán USD ra để can thiệp nhằm bình ổn tỷ giá. Nhưng hành động can thiệp này có hạn, phụ thuộc vào mức độ dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương cũng như phụ thuộc vào mức độ tấn công dai dẳng của nhà đầu cơ. Trong tình huống xấu nhất, ngân hàng trung ương mặc dù đã dùng quá nhiều dự trữ ngoại hối của mình nhưng vẫn không thắng nổi ý chí tấn công liên tục của nhà đầu cơ nên buộc phải từ bỏ ý định can thiệp ổn định tỷ giá. Kết cục là đồng bản tệ bị phá giá tự do không kiểm soát, gây hoảng loạn trong giới đầu tư nước ngoài, làm nhu cầu chuyển đổi từ nội tệ sang ngoại tệ càng tăng mạnh, đến lượt nó lại làm cho nội tệ mất giá hơn nữa trong một vòng xoáy trôn ốc.
      Đến lúc này các nhà đầu cơ tiền tệ mới ung dung tung một phần USD mà họ mới vừa mua trước đây ở nước sở tại ra để mua nội tệ nhằm thanh toán các khoản vay bằng nội tệ từ hệ thống ngân hàng sở tại dùng để tấn công hệ thống tỷ giá nước này. Nói là họ chỉ tung “một phần” USD vì đồng nội tệ đã bị phá giá rất nhiều so với thời điểm họ vay ngân hàng nên nay họ chỉ cần một phần trong số USD mua gom được là cũng đủ để mua lại đúng số bản tệ mà họ đã vay. Kết quả là nhà đầu cơ thu được một khoản USD chênh lệch đáng kể từ hoạt động tấn công mang tính đầu cơ này. Còn nền kinh tế sở tại thì bị tổn thương nghiêm trọng với đồng bản tệ mất giá, nhà đầu tư nước ngoài nghiêm túc (dài hạn) thì hoảng sợ bỏ chạy, các hoạt động sản xuất và kinh doanh bị đình đốn, và nền kinh tế thậm chí có khả năng rơi vào khủng hoảng.
      Tuy nhiên, điều kiện để xảy ra kịch bản trên không hoàn toàn dễ dàng. Nhà đầu cơ chỉ có thể tấn công cơ chế tỷ giá khi: (1) nhà đầu cơ có thể dễ dàng vay nội tệ từ hệ thống ngân hàng sở tại với mục đích không rõ ràng; (2) nhà đầu cơ có thể dễ dàng mua USD từ hệ thống ngân hàng; (3) một tỷ trọng lớn vốn đầu tư nước ngoài vào nước sở tại là vốn đầu tư ngắn hạn; (4) nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng mang vốn ngoại tệ ra nước ngoài; (5) ngân hàng trung ương kiên định thái quá vào việc bảo vệ cơ chế neo tỷ giá chặt chẽ (hầu như cố định) bằng mọi giá.
      Nếu không thỏa mãn được những điều kiện này thì hoặc là nhà đầu cơ không vay được nội tệ để thực hiện đòn tấn công “tay không bắt giặc”, hoặc là họ vay được nội tệ nhưng cho dù tỷ giá có bị thả nổi chăng nữa nhưng nhà đầu tư và cả đầu cơ không thể mang USD ra ngoài lãnh thổ nước sở tại nên sẽ không tạo ra được vòng xoáy trôn ốc nói trên và làm mất đi động cơ tấn công đầu cơ là để kiếm chênh lệch USD mang lại từ hành động đi vay và hành động mua USD ở nước sở tại.
      Rất may cho Việt Nam là hiện nay tất cả những điều kiện trên đều không tồn tại. Với tình trạng khan hiếm VND như hiện nay và việc thắt chặt cho vay, hầu như không một nhà đầu cơ tiền tệ nào có thể vay nổi VND từ hệ thống ngân hàng (có lẽ trừ khi họ vạch ra những dự án sản xuất kinh doanh “ma” nào đó để thuyết phục ngân hàng cho vay, nhưng dẫu vậy thì khả năng thành công cũng rất thấp). Việc mua USD từ hệ thống ngân hàng cũng đã bị thắt chặt, và họ chỉ mua được trừ khi chứng minh được mục đích hợp pháp theo quy định quản lý ngoại hội hiện hành (tất nhiên không có mục đích dành cho đầu cơ). Thậm chí trong tình hình cung cầu ngoại tệ căng thẳng như thế này thì việc mua được USD từ hệ thống ngân hàng cũng không đơn giản. Còn việc chuyển vốn ngoại tệ ra nước ngoài thì càng gian nan hơn với nhiều quy định và thủ tục nhằm chứng minh nguồn gốc của khoản ngoại tệ và mục đích chuyển ra nước ngoài. Thêm nữa, phần lớn nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam hiện nay là nhà đầu tư dài hạn (FDI) nên động cơ tháo chạy của họ không mạnh bằng của những nhà đầu tư ngắn hạn. Và cuối cùng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không có ý định cố định tỷ giá, và luôn tuyên bố (cũng như trên thực tế có làm như vậy) một cơ chế tỷ giá linh hoạt. Tất cả những yếu tố này hoặc là làm nản lòng nhà đầu cơ tiền tệ, hoặc là ngăn họ không thể thực hiện được hành động tấn công mang tính đầu cơ tại Việt Nam.
      Như vậy, có thể kết luận lại rằng hành động tấn công mang tính đầu cơ – vốn là nguồn gốc gây ra khủng hoảng tài chính ở khu vực và các nơi khác trên thế giới – không có điều kiện xảy ra ở Việt Nam, ít nhất là trong bối cảnh hiện tại. Cảnh báo sớm, nếu đúng, là một điều tốt để cho các cơ quan quản lý chức năng nhận thức rõ hơn nguy cơ để từ đó có biện pháp phòng bị. Nhưng cảnh báo, nhất là đưa ra công khai trên báo chí, dựa trên nhận thức mang tính sách vở, hời hợt, chủ quan, và phiến diện thì chỉ có tác dụng hà hơi thêm cho tình trạng rối ren của nền kinh tế, và có khi chính vì thế đẩy nền kinh tế rơi vào khủng hoảng.

Ts  Phan Minh Ngọc

Ts Phan Minh Ngọc
  
Gửi bài này Bản in

 BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
HCM1.jpg
Trang chủ | Liên hệ | Quảng cáo | Giới thiệu