
Với đà tăng giá xem ra ngày càng mạnh, Chính phủ đã tỏ thái độ quyết liệt, sẵn sàng chi hàng chục nghìn tỷ đồng nữa bù lỗ cho các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu các hàng hóa chiến lược để ghìm tốc độ tăng giá trong những tháng tới đây, chứ không “buông” giá những mặt hàng này sau tháng 6 như dư luận đồn đại. Việc kiềm chế lạm phát bằng biện pháp trợ cấp và bù lỗ này xem ra không có gì là bất thường vì đó cũng là biện pháp mà nhiều nước trên thế giới thường nghĩ đến đầu tiên mỗi khi phải đối mặt với sự tăng giá mạnh của một mặt hàng nào đó trong nền kinh tế.
Nhưng, kết cục tất yếu của biện pháp này, rất thường xuyên, là sự thâm thủng quá sức chịu đựng của ngân sách Chính phủ buộc các Chính phủ phải chấm dứt giữa chừng sự bù lỗ và trợ giá, để rồi giá cả sau đó tăng vọt phản ánh đúng mức độ khan hiếm trên thị trường.
Nhìn sơ qua có thể thấy, chuyện trợ giá ở Việt Nam chẳng qua cũng đang lặp lại vết xe đổ trên thế giới, và chính của chúng ta trong quá khứ, với những lần tăng giá cực chẳng đã vì ngân sách không kham nổi. Rốt cuộc, chuyện Chính phủ khăng khăng biện pháp trợ giá chẳng qua cũng chỉ là một biện pháp “chữa cháy” phần nào cơn cuồng nộ của lạm phát do chính những chính sách quản lý kinh tế vĩ mô sai lầm gây ra, nhằm làm an lòng dân chúng được chừng nào hay chừng ấy, được lúc nào hay lúc ấy. Hiển nhiên không cần phải nói rằng, để sửa một cái sai này bằng một cái sai khác là điều rất không nên. Vậy tại sao có thể nói biện pháp trợ giá và bù lỗ của Chính phủ là một cái sai, ngoài chuyện sớm hay muộn thì cũng phải chấm dứt như kinh nghiệm trên thế giới cho thấy?
Mục đích của trợ giá là để giá cả của những mặt hàng được trợ giá và, do đó, những mặt hàng liên quan, không tăng lên. Từ đó, người ta hy vọng chỉ số giá cả (CPI) cũng không tăng lên, tạo ra cảm giác lạm phát đã tăng chậm hơn một cách khiên cưỡng. Tuy nhiên, trong suy nghĩ kiểu này có một sơ hở chết người mà người ta không nhận ra rằng chính vì nó mà áp lực lạm phát không hề giảm. Số tiền ngân sách dùng để trợ giá này lấy ở đâu ra? Đương nhiên là chỉ từ hoặc là tăng thu thuế và các khoản thu ngân sách khác, hoặc là vay mượn từ trong và ngoài nước, hoặc là yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phát hành tiền.
Về khoản tăng thu ngân sách, trong hoàn cảnh bình thường (không có lạm phát, và do đó không có nhu cầu tăng chi như trợ giá, trợ cấp cho các vấn đề an sinh xã hội) Chính phủ cũng đã phải rất chật vật để thu đúng, thu đủ, và chẳng bao giờ thu đủ để chi. Nay tăng gánh nặng nghĩa vụ giao nộp lên nền kinh tế trong hoàn cảnh lạm phát tăng cao gây khó khăn cho sản xuất và kinh doanh, cũng như thu nhập của doanh nghiệp và người lao động thì tự thân nó đã là một biện pháp bất khả thi, hoặc có tác dụng ngược đến chống lạm phát (vì sản xuất kinh doanh sẽ bị giảm sút khi bị tác động mạnh bởi biện pháp tăng thu ngân sách này, làm giảm nguồn cung hàng hóa và dịch vụ, do đó làm tăng thêm áp lực lạm phát).
Biện pháp đi vay trong và ngoài nước để lấy tiền trợ cấp và bù lỗ, như chúng tôi đã chỉ ra một đôi lần trước đây, không góp phần làm giảm áp lực lạm phát. Nếu chỉ đơn thuần là vay trong nước thì khoản vay này của Chính phủ sẽ cạnh tranh với khoản vay của các doanh nghiệp tư nhân, làm giảm nguồn vốn đầu tư phi ngân sách, và tức là làm giảm cung hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế (một phần là do khu vực kinh tế tư nhân có hiệu quả sử dụng vốn cao hơn khu vực kinh tế dùng ngân sách nhà nước), do đó làm tăng áp lực lạm phát. Còn nếu vay thêm của nước ngoài thì vốn được vay về sẽ làm tăng cung tiền và do đó làm tăng áp lực lạm phát. Biện pháp vay tiền từ Ngân hàng Nhà nước đương nhiên sẽ làm tăng cung tiền và do đó tăng lạm phát.
Trên hết, bất kể Chính phủ dùng biện pháp nào (kể cả những biện pháp không được liệt kê bên trên) thì Chính phủ vẫn phải bằng hình thức này hay hình thức khác, chi tiền trực tiếp cho những doanh nghiệp sản xuất hoặc nhập khẩu những hàng hóa và dịch vụ được trợ giá và bù lỗ. Chẳng hạn như đối với doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu, Chính phủ vẫn phải có nghĩa vụ giữ cho những doanh nghiệp này không bị phá sản. Kết cục là mức chi tiêu (và tức là mức cầu hàng hóa và dịch vụ tạo ra) từ những doanh nghiệp này không hề giảm đi (công nhân của họ vẫn phải được trả lương như cũ, hoặc thậm chí còn cao hơn, máy móc nhà xưởng vẫn phải được khấu hao đầy đủ hoặc mua mới, xây mới, tín dụng vẫn phải được rót cho họ để nhập khẩu xăng dầu và máy móc...). Như vậy, một mặt tuy lạm phát có bị ép bởi sự kiềm chế giá cả nhưng mặt khác lạm phát lại bùng lên do mức chi tiêu trong nền kinh tế vẫn không ngừng tăng lên, kéo theo tổng cầu tăng lên. Kết cục là biện pháp trợ giá của Chính phủ mất tác dụng. Điều này có thể lý giải một phần tại sao lạm phát ở Việt Nam chưa hề có dấu hiệu suy giảm mặc dù Chính phủ đã áp dụng biện pháp kiểm soát giá từ lâu.
Nếu Chính phủ kiềm chế giá cả chỉ bằng biện pháp hành chính, tức là yêu cầu doanh nghiệp không được tăng giá thì sẽ vấp phải sự đối phó bằng cách sản xuất cầm chừng, và bởi vậy cung hàng hóa không thể tăng lên để xoa dịu áp lực lạm phát. Tất nhiên, Chính phủ cũng có thể ra lệnh cho doanh nghiệp nối lại sản xuất đầy đủ như mức trước đây, nhưng rốt cuộc biện pháp này cũng không thể kéo dài lâu vì “có bột mới gột nên hồ”, doanh nghiệp không thể ăn vào xương của họ, và cũng không thể hy sinh vì Chính phủ.
Ngoài ra, ta cũng chưa kể đến những tác dụng phụ của biện pháp hành chính cấm tăng giá, hoặc trợ giá, bù lỗ. Những biện pháp này chỉ làm méo mó sự khan hiếm tương đối của mỗi một hàng hóa và các loại đầu vào sản xuất kinh doanh, làm cho nền kinh tế mất đi tính cạnh tranh do các loại đầu vào không được phân bổ theo đúng mức độ khan hiếm tương đối của chúng theo quy luật thị trường. Người dân thì quen ỷ lại vào sự trợ giá của nhà nước nên dễ bị kích động bạo loạn mỗi khi Chính phủ thay đổi chính sách trợ giá.
Tóm lại, phân tích sâu một chút ta có thể thấy chính sách trợ giá và bù lỗ như hiện nay chỉ là những liều morphin quá đắt đỏ với túi tiền nhẹ bẫng của con bệnh, và chỉ có tác dụng làm giảm sự đau đớn một cách nhất thời của con bệnh chứ không chữa được căn bệnh, chưa nói đến những tác dụng phụ tai hại mà nó gây ra làm con bệnh chóng chết hơn trước khi ngừng sử dụng.
Ts Phan Minh Ngọc