|
Theo Dự thảo Pháp lệnh thuế Tài nguyên (sửa đổi), khung thuế suất tài nguyên sẽ được điều chỉnh theo hướng tăng đối với khoáng sản nhằm góp phần hạn chế nạn khai thác tràn lan, tăng thu cho ngân sách địa phương. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp lại cho rằng, mức thuế này là quá cao và làm khó doanh nghiệp. |
Theo quy định của dự thảo Pháp lệnh thuế Tài nguyên (sửa đổi), khung thuế suất có khoảng cách khá lớn: 1- 30%; 10- 40%. Nhiều ý kiến cho rằng, khung thuế suất như vậy có thể khiến nhà đầu tư có cảm giác chính sách thuế tài nguyên có biểu hiện không rõ ràng, minh bạch, thiếu tính ổn định dẫn đến việc tuỳ tiện trong việc áp mức thuế suất. Quan điểm của Ts Vũ Thu Hạnh, Trường Đại học Luật Hà Nội là nên quy định mức tối thiểu của khung thuế suất cao hơn mức tối thiểu hiện hành đối với những tài nguyên cần có sự quản lý chặt chẽ trong thời gian tới. Việc này vừa quản lý được nguồn tài nguyên vừa hạn chế nguy cơ tuỳ tiện trong việc quy định các mức thuế cụ thể. Chủ tịch Hiệp hội thép Việt Nam Phạm Chí Cường cho rằng, việc tăng khung thuế suất tài nguyên là cần thiết vì khung thuế suất được ban hành từ năm 1998 hiện nay đã không còn thích hợp, không theo kịp xu hướng tăng giá tài nguyên khoáng sản thế giới. Tuy nhiên, nếu tăng thuế quá cao sẽ khiến các doanh nghiệp khai thác và sử dụng tài nguyên mất lợi đi thế cạnh tranh. Khung thuế suất khoáng sản kim loại tối đa không nên tăng lên 30%, nên ở mức từ 1- 20% là hợp lý. Nạn đào đãi vàng trái phép diễn ra tràn lan làm suy thoái môi trường, lãng phí tài nguyên và thất thoát nguồn thu trong thời gian qua có nguyên nhân yếu kém trong công tác quản lý nhà nước chứ hoàn toàn không phải do mức thuế tài nguyên đang được áp dụng thấp - Tổng Giám đốc Cty TNHH Vàng Phước Sơn Nguyễn Xuân Tường nhận định. Cũng theo ông Tường, nên quy định thuế suất tài nguyên đối với khai thác vàng ở mức 6%, các khoáng sản kim loại khác 5%, đá quý hiếm 8% thay vì 1- 30% như dự thảo. Thực tế, quy định mức thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản quặng kẽm, chì là 180.000 VNĐ/tấn quặng nguyên khai, theo cách tính thu phí trong nội dung thông tư số 67/2008/TT-BTC ngày 21/7/2008 của Bộ Tài chính chỉ đúng với các thành phần khai thác nhỏ lẻ, trái phép, mua bán tự do không đúng với các doanh nghiệp nhà nước chế biến sâu, sản xuất quy mô công nghiệp. Vì những đơn vị sản xuất với quy mô công nghiệp phải đầu tư cơ sở hạ tầng tại các khu vực mỏ vùng xa xôi hẻo lánh rất khó khăn, việc áp dụng thuế suất thuế tài nguyên ở mức từ 10% trở lên và mức phí bảo vệ môi trường 180.000 VNĐ/tấn quặng nguyên khai dẫn đến chi phí sản xuất lớn không thể đảm bảo sản xuất cũng như ổn định đời sống của công nhân viên. Mặt khác, để sử dụng triệt để và tận thu nguồn tài nguyên khoáng sản kim loại màu tại các các khu mỏ có hàm lượng kim loại thấp nếu áp dụng mức thuế suất trên cũng sẽ không khuyến khích tiết kiệm và khai thác chế biến nguồn tài nguyên này gây lãng phí tổn thất tài nguyên. Do vậy, đại diện Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Kim loại màu Thái Nguyên đề xuất: Mức thuế suất thuế tài nguyên đối với nhóm hàng khoáng sản kim loại thực hiện mức 5-10%. Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác quặng kẽm, quặng chì ở mức 30.000VNĐ/tấn quặng nguyên khai là hợp lý. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc khai thác tràn lan, gây thất thoát, giảm nguồn thu, huỷ hoại môi trường và xuất khẩu quặng khoáng sản tăng mạnh trong thời gian qua là do yếu kém trong quản lý, kể cả yếu kém trong quản lý thuế, đặc biệt là quản lý đối tượng nộp thuế và quản lý giá tính thuế. Điều này cũng có nghĩa là phải tính đến các giải pháp đồng bộ trong quản lý tài nguyên thiên nhiên chứ không chỉ đơn thuần là việc điều chỉnh khung thuế suất loại thuế này. |