
Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc, Chính phủ đã quyết định gói kích cầu sẽ chủ yếu tập trung hỗ trợ 4% lãi suất cho doanh nghiệp để giảm chi phí và sức ép đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, việc điều hành hiện tập trung chủ yếu vào Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại. Vấn đề của nền kinh tế Việt Nam hiện nay không còn là đầu tư hay không đầu tư nữa, mà quan trọng hơn là làm sao các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp xuất khẩu duy trì được sự tồn tại, tiếp tục sản xuất, từ đó tạo công ăn việc làm. Đây cũng là lần đầu tiên Chính phủ công bố dành riêng một khoản 1 tỷ USD (khoảng 17 nghìn tỷ đồng) dành cho kích cầu. Theo đó, các doanh nghiệp toàn quyền quyết định vay để làm gì mà doanh nghiệp thấy có hiệu quả nhất (cũng có lợi cho nền kinh tế), Nhà nước chỉ hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay nằm trong danh mục được hỗ trợ nhằm giúp các doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng chi phí tài chính với mục tiêu khuyến khích duy trì sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, câu hỏi mà nhiều người đã đặt ra ngay khi gói hỗ trợ tín dụng được đưa ra là liệu có cần thiết sử dụng một nguồn kinh phí từ ngân sách để bù đắp lãi suất hay không, hay chỉ cần phát huy chức năng của Ngân hàng Nhà nước với vai trò người cho vay ở giai đoạn cuối? Cũng để khuyến khích việc tài trợ cho các lĩnh vực mà Nhà nước thấy cần khuyến khích ở thời điểm cấp bách này, Ngân hàng Nhà nước có thể cho các ngân hàng thương mại vay lại trên cơ sở thế chấp hoặc tái chiết khấu các hồ sơ tín dụng của các ngân hàng thương mại với lãi suất ưu đãi, một mức lãi suất rất thấp và trong nhiều trường hợp có thể bằng không. Từ đó, các ngân hàng thương mại có thể áp dụng một mức lãi suất cho vay ưu đãi cho các doanh nghiệp.
Ngân hàng Nhà nước có thể cho các ngân hàng thương mại vay vốn với mức lãi suất đặc biệt, như ở Mỹ là từ 0% - 0,25%, ở Nhật là 0,3%. Với mức lãi suất vay vốn thấp như vậy, các ngân hàng thương mại có thể cho doanh nghiệp vay với lãi suất thấp, chỉ khoảng từ 3-5%, mà ngân sách nhà nước không phải hỗ trợ. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc tất cả các đối tượng được vay vốn với mức lãi suất thấp chứ không bị phân biệt như hiện nay. Mức lãi suất thấp được thực hiện rộng rãi khiến cho chi phí đầu vào thấp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thêm lợi thế cạnh tranh trên thị trường nội địa cũng như xuất khẩu. Trách nhiệm của các ngân hàng thương mại lúc này là giám định tính chất khả thi và hiệu quả kinh tế của mỗi dự án trước khi cho vay; Có trách nhiệm thu hồi vốn và lãi.
Thực tế cũng không đơn giản là có thể dùng 17 nghìn tỷ đồng để làm đòn bẩy duy nhất, bởi đối với doanh nghiệp việc bù lãi suất giúp giảm chi phí lãi suất không thôi chưa đủ, vì yếu tố thị trường còn quan trọng hơn nhiều so với yếu tố chi phí. Nếu doanh nghiệp đi vay để sản xuất mà hàng sản xuất ra không bán được thì hỗ trợ lãi suất lúc này cũng không còn ý nghĩa.
Vấn đề suy thoái kinh tế không thể được giải quyết chỉ bằng một giải pháp đơn nhất là kích cầu. Giải pháp kích cầu bằng hỗ trợ chi phí lãi suất chủ yếu nhằm mục đích duy trì tình trạng hiện có, mức sản xuất kinh doanh hiện có và mức nhân dụng hiện có – trong bối cảnh suy thoái này thì việc duy trì được hoạt động cho doanh nghiệp đã là một thành công. Trong khi thực tế, tình trạng khó khăn hiện nay của rất nhiều doanh nghiệp xuất phát từ nhiều nguyên nhân, không chỉ vì chi phí tài chính cao. Do đó, ngăn chặn suy thoái kinh tế phải hướng vào việc tạo ra những doanh nghiệp mới, những doanh nghiệp sẽ hoạt động hiệu quả hơn, thu hút số lao động đã mất việc và tạo ra công ăn việc làm mới cho người lao động nhằm thay thế những doanh nghiệp không thể tồn tại. Đó mới là sự chuyển biến về chất.