Tin, bài mới nhận:  
Thứ Bẩy, ngày 31/07/2010   
 
 THÔNG TIN CẦN BIẾT
 TÒA SOẠN CỦA BẠN

bannertoasoan.jpg

Gói kích cầu, tăng trưởng và việc làm
18/04/2009
Suy giảm tăng trưởng nhiều khi không đơn giản là hoàn toàn tỷ lệ nghịch với gia tăng thất nghiệp, như tăng trưởng giảm đi 1%, thất nghiệp sẽ tăng lên x%. Bởi vậy, nếu như suy giảm tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam chủ yếu là do suy giảm ở một số ngành thâm dụng vốn và sử dụng ít lao động, thì tác động tiêu cực của nó lên công ăn việc làm cũng sẽ là nhỏ một cách tương đối. Kể cả trước cuộc khủng hoảng, tình trạng thất nghiệp và bán thất nghiệp ở nước ta đã không phải là nhỏ. Dẫu vậy, thực tế vẫn là nạn thất nghiệp đang có xu hướng gia tăng, dù ít hay nhiều một cách tương đối, đòi hỏi Chính phủ phải có những đối sách hữu hiệu, đúng hơn, trúng hơn.

Tốc độ tăng trưởng tụt từ mức trên 8% xuống còn 5%- 6% trong năm nay tất yếu sẽ làm gia tăng con số thất nghiệp. Nhưng với tốc độ tăng trưởng như vậy (5%- 6%) trong năm 2009 vẫn là một tốc độ tăng trưởng tương đối cao, đáng mơ ước với nhiều nền kinh tế trên thế giới, phải chăng, bản thân mức tăng trưởng này cũng có thể cho thấy tình trạng thất nghiệp trên thực tế có lẽ không đến mức trầm trọng và bi quan như những gì ta đang cảm nhận?!. Ngân hàng Phát triển Châu Á cho rằng, Việt Nam cần chấp nhận đánh đổi mục tiêu tăng trưởng với kiểm soát lạm phát trong vài năm trước mắt, để có thể bình ổn kinh tế vĩ mô và phục hồi mạnh mẽ vào những năm sau. Theo ông Lưu Bích Hồ - Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển Việt Nam, Bộ KH-ĐT: “việc làm phải được xem là trọng số cho phát triển nếu muốn hiệu quả và bền vững. Nếu chỉ nhằm vào thành tích tăng trưởng (thuần túy) thì hai mục tiêu này mâu thuẫn với nhau”. Từ việc doanh nghiệp chần chừ và đón nhận ngập ngừng gói kích cầu qua lãi suất của Chính phủ, có thể thấy hiệu quả của việc rót vốn nhằm tăng trưởng đã giảm nhiều. Trong khi đó, dư địa để tăng trưởng nhờ tạo thêm việc làm vẫn còn lớn và gắn với nó là chất lượng tăng trưởng.

Quan sát các gói giải pháp được Chính phủ các nước đặt ra để chống suy thoái trong khủng hoảng, mục tiêu tạo ra việc làm được xem là ưu tiên số một. Nước Mỹ vừa thông qua gói kích cầu 787 tỷ USD mà mục tiêu là nhằm tạo ra 4 triệu việc làm mới. Với Việt Nam, năm 2009, chúng ta đặt ra mục tiêu tăng trưởng 6,5% để có thể đảm bảo việc làm cho người dân. Nói cách khác, chúng ta đặt hai mục tiêu cơ bản: tăng trưởng và việc làm. Có mâu thuẫn không giữa hai mục tiêu này?

Thực ra, cả lý thuyết và thực tiễn đều chỉ rõ ba yếu tố cấu thành nên tăng trưởng GDP: vốn, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp TFP. Cách đây vài năm, một nghiên cứu của Viện Quản lý kinh tế trung ương, Viện Chiến lược phát triển và Tổng cục Thống kê cho thấy, vốn đóng góp khoảng 60-65% tăng trưởng, trong khi lao động đóng góp 20-25% GDP và chỉ số năng suất tổng hợp đóng góp 10-15% GDP. Việt Nam có nền kinh tế thâm dụng vốn và tài nguyên, thể hiện rõ ở chỉ số ICOR năm 2008 của Việt Nam tăng nhanh rất cao - lên tới 7. Vai trò của lao động tăng thêm cũng như tiến bộ của TFP (các nhân tố tổng hợp) còn rất chậm và rất hạn chế. Đối phó với lạm phát, chúng ta chủ trương cắt giảm đầu tư, ngăn việc đưa vốn đầu tư lên cao.

Thế giới khủng hoảng cũng khiến cho nguồn vốn của Việt Nam hạn chế nhiều. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang đe dọa đến việc thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo toàn cầu. Trong đó Việt Nam nằm trong nhóm những nước có nguy cơ rủi ro cao nhất về tình trạng tái nghèo, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB). Trong một báo cáo chính sách cho hội nghị Bộ trưởng Tài chính G7 ngày 14.2 vừa rồi, WB cho rằng khoảng 40 trong số 107 nước đang phát triển có nguy cơ bị ảnh hưởng cao bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Việt Nam nằm trong nhóm 40 này.

Tuy nhiên, mức đầu tư của Việt Nam năm 2008 đã lên tới 44% GDP. Điều này gắn với chất lượng và hiệu quả tăng trưởng rất thấp. Muốn nâng tăng trưởng, chúng ta có ba lựa chọn: tăng vốn, tăng số lượng việc làm mới tạo ra và tăng chỉ số TFP. Chống giảm phát, đưa ra các gói kích cầu đầu tư hiện nay 136 ngàn tỷ đồng (8 x 17 ngàn tỷ đồng), cũng đồng nghĩa về thực chất chính là cách chúng ta tăng thêm vốn cho nền kinh tế 136 ngàn tỷ đồng. Hiện nay, khoảng 470 ngàn tỷ đồng đang chờ sẵn để bù lãi suất đưa vào nền kinh tế, bao gồm cả vốn nhà nước và vốn của ngân hàng. Thế nhưng, hầu hết các doanh nghiệp vẫn ngồi yên do còn cân nhắc thị trường đầu tư và tính hiệu quả của việc sản xuất.

Nói cách khác, muốn tăng vốn để tăng GDP bây giờ cũng khó, tác dụng hạn chế. Việt Nam phải tập trung làm cái gì khác nữa mới có thể tăng trưởng thêm được. Hơn nữa, nếu dùng vốn để tăng GDP, đầu tư ấy chưa hẳn đã hiệu quả, như hiệu quả của việc giảm lãi suất hiện nay, và đó chưa hẳn là GDP thực. Nếu vốn đổ ra, các công trình dở dang, hoặc xây nhưng không sử dụng ngay được, thì đầu tư ấy tạo GDP nhưng là thứ GDP không chất lượng, không thiết thực cho đời sống nhân dân và khắc phục khó khăn hiện nay. Nói cho cùng, tăng trưởng GDP không có mục đích tự thân, mà chủ yếu là phải mang lại lợi ích cho đời sống người dân, và phần đóng góp trở lại của GDP cho ngân sách. Nếu trừ đi phần vốn đầu tư khổng lồ, thì làm sao GDP có thể tạo nên ngân sách lớn? Do đó, để gắn tăng trưởng với hiệu quả như mục tiêu chúng ta đề ra thì phải tăng việc làm, tạo nguồn việc làm mới để tăng GDP. Vậy với tổng gói kích cầu là khoảng 8 tỷ USD (tương đương với 136 ngàn tỷ đồng Việt Nam), sẽ tạo thêm bao nhiêu việc làm cho nhân dân?

Trong suy giảm kinh tế hiện nay, hàng triệu người lao động Việt Nam sẽ không có việc làm, và hàng triệu người khác không có việc làm đầy đủ, vốn ít được tính đến (cần gấp rút đánh giá đúng và dự báo chính xác các con số này). Đúng là, kích cầu tuy cực kỳ quan trọng, nhưng không phải cứ có tiền là mọi việc đã xong, tránh được khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế!

TS Nguyễn Quốc Hùng
  
Gửi bài này Bản in

 BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
HCM1.jpg
Trang chủ | Liên hệ | Quảng cáo | Giới thiệu