Thứ Sáu, ngày 21/11/2008   
 
 THÔNG TIN CẦN BIẾT
 TÒA SOẠN CỦA BẠN

bannertoasoan.jpg

120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng: Kỷ niệm với Bác Tôn
20/08/2008
Đầu tháng 5.1946, nhận lời mời chính thức của Quốc hội Pháp, đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam gồm 12 đại biểu, do cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn; Cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng làm Phó trưởng đoàn, đã sang thăm Pháp, nhằm mở ra triển vọng hòa bình hữu nghị hợp tác giữa 2 dân tộc. Chuyến đi đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm về Bác Tôn…

      Mục đích của Chính phủ ta trong chuyến đi là nhân dịp này sẽ đấu tranh gây phong trào buộc Pháp bỏ ý đồ xâm lược, phục hồi nền tự do thống nhất của nước Việt Nam. Đa số là đại biểu của Nam bộ và Nam Trung bộ bị chiếm đóng. Trên máy bay cũng như khi đến nơi tạm dừng chân, bác Tôn đều ân cần thăm hỏi sức khỏe của từng thành viên trong đoàn. Bác Tôn nhắc nhở các đại biểu giữ gìn sức khỏe và đừng để sơ hở về mặt nhân cách tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Tại Le Caire, Ai Cập nơi đoàn tạm nghỉ 2 ngày, theo yêu cầu của ta, khách sạn phải trang trí quốc kỳ Việt Nam và đầy đủ nghi thức đón tiếp một phái đoàn Quốc hội chính thức. Khi phái đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam tới sân bay Orly, phía Pháp đã thực hiện đúng những cam kết về nghi thức đón tiếp. Xuống máy bay, bác Tôn vỗ vai tôi chỉ lên lá cờ đỏ sao vàng đang phấp phới bay trên cột cờ cao chót vót, tôi cũng như anh em trong đoàn rất xúc động, xem lá cờ là một tiêu biểu rạng rỡ của nước Việt Nam Tự do Độc lập mới ra đời sau một thế kỷ nô lệ…
      Tại Quốc hội Pháp, người đầu tiên gây xúc động đối với bác Tôn và toàn đoàn là André Marti, đại biểu Đảng Cộng sản Pháp, đóng vai trò nòng cốt trong cuộc khởi nghĩa của binh sỹ, chiến hạm Pháp tại Hắc Hải năm 1917. Chính André Marti là người chỉ đạo cuộc binh biến đó và bác Tôn là thủy thủ của chiếc tàu chiến ấy được cử ra kéo lên cột cờ của tàu lá cờ đỏ của Cách mạng tháng Mười Nga. Sau những phút hàn huyên sôi nổi, André Marti ôn tồn phát biểu, đại ý: Các đồng chí của phái đoàn Quốc hội Việt Nam sang xây dựng quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc Pháp- Việt và gây phong trào nhân dân Pháp ủng hộ Việt Nam là việc làm cần thiết, nhưng tình hình chính trị nước Pháp hiện nay còn phức tạp, chính phủ Ramadier nghiêng về quyền lợi của các tập đoàn tư bản, giới tư bản Pháp không dễ dàng nhả ra những quyền lời béo bở ở Đông Dương như Than Hòn Gai, Cao su Nam bộ. nếu có thể được, các đồng chí nên thu xếp về sớm để chuẩn bị đối dầu với cuộc chiến tranh xâm lược sẽ nổ ra, bên đây tại Pháp và châu Âu chúng tôi sẽ kiên trì hoạt động ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc Việt Nam… Sau đó, phái đoàn do bác Tôn dẫn đầu đã gặp một số nhân vật tiêu biểu của Pháp như nhà bác học Paul Rivet- Giám đốc Viện Nhân chủng học Pháp, Chủ tịch Hội phụ nữ Pháp Vaillant Cutuner và một số nhân vật tiến bộ Pháp cùng giới khoa học kỹ thuật, văn hóa, tất cả đầu tỏ ra nhiệt tình ủng hộ nền độc lập của Việt Nam và tất cả đều khuyên chúng tôi cẩn thận chuẩn bị đối phó việc xâm lược của Pháp.
      Tại Bộ Ngoại giao Pháp, phái đoàn được ông Marius Moutet, Tổng trưởng trước kia là Bộ Thuộc địa nay đổi tên là Bộ Pháp Quốc hải ngoại đón tiếp ông Moutet không phải là người xa lạ đối với Việt Nam. Từ đầu thế kỷ XX ông đã là Chủ tịch Hội nhân quyền Pháp, có một số hành động ủng hộ dân tộc Việt Nam như kiến nghị thay đổi chính sách thuộc địa của Pháp ở Đông Dương, thực hiện chính sách nhân đạo đối với người yêu nước Việt Nam bị tù đày dưới chế độ thuộc địa…Ông Moutet phát biểu: “Các ông trong phái đoàn Việt Nam cần nhớ rằng tôi là một người bạn lâu đời của Việt Nam đã từng bất chấp mọi khó khăn hoạt động ủng hộ Việt Nam trong quá khứ ngay trong một số đại biểu các ông chưa sinh ra”. Lúc bấy giờ ông Moutet đã 78 tuổi, trong khi niên trưởng của phái đoàn là Bác Tôn chỉ 56 tuổi và tôi nhỏ tuổi nhất chỉ mới 26 tuổi. Được phép của Bác Tôn tôi đã trả lời với ông Moutet như sau: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi không bao giờ quên ơn ngài Moutet, nguyên Chủ tịch Hội Nhân quyền Pháp. Chúng tôi mong rằng ngài Bộ trưởng Bộ Pháp quốc Hải ngoại hiện tại của Chính phủ Pháp có những hành động hợp lý nhân đạo không làm phai nhạt hình ảnh cao quý của ngài Moutet nguyên chiến sỹ hòa bình năm xưa, ngăn cản chính sách thuộc địa hiếu chiến của Chính phủ Pháp hiện nay”. Khi phái đoàn trở về trụ sở, bác Tôn góp ý với tôi: “Lời phát biểu của anh nội dung là đúng đắn, nhưng lời lẽ thể hiện có chỗ tỏ gay gắt căng thẳng không phù hợp với chính sách của Nhà nước ta là trên cơ sở độc lập chủ quyền dân tộc tìm kiếm một giải pháp hòa bình với Pháp”. Vì sau đó một thời gian đã mở ra Hội nghị Fontaubebleau Pháp - Việt để tìm giải pháp hòa bình ở Đông Dương. Tôi đã tiếp thu ý kiến của Bác Tôn.
      Giữa tháng 5.1946, Bác Tôn dẫn một bộ phận của phái đoàn ĐBQH về trực tiếp thăm đồng bào Việt kiều ở Toulon, Marseille, một tổ đại biểu của binh đoàn Việt Nam trong lực lượng Đồng minh chiếm đóng nước Đức quốc xã bại trận được giao chiếm đóng quân Constance của Đức. Binh đoàn Việt Nam này gồm những binh sỹ thuộc địa bị bắt ép sang làm bia đỡ đạn cho Pháp từ năm 1939, gồm 2 tiểu đoàn đã tham gia kháng chiến chống phát xít Đức ở chiến khu Vercort, phía Nam nước Pháp, đã tham gia chiến đấu giải phóng thủ đô Paris và được Ban Chỉ huy lực lượng Đồng minh giao chiếm đóng quận Constance nước Đức. Anh em binh sỹ Việt Nam đều có lòng yêu mến quê hương đất nước nên khi được tin Cách mạng tháng Tám thành công, họ sôi nổi đấu tranh đòi Bộ Chỉ huy đồng minh trong đó có Pháp chấp nhận cho họ tách ra khỏi lực lượng Pháp và lấy tên là Tiểu đoàn tự trị Việt Nam với quốc kỳ họ tự chế ra khi chưa liên lạc được với Tổ quốc. Anh em cử một đoàn đại biểu gồm 3 người do Đại úy Nguyễn Văn Huấn (người Đà Nẵng) dẫn đầu đi chuyên cơ của Đồng Minh về xin gặp phái đoàn Quốc hội Việt Nam tại Paris. Đoàn đã được bác Tôn tiếp đón thân tình, bác tỏ lời động viên và hoan nghênh chúc mừng thành tích chống phát xít của Tiểu đoàn Việt Nam, hoan nghênh anh em đã hướng về Tổ quốc Việt Nam, đấu tranh giành quyền tự trị của đơn vị mình và cắm được lá cờ vinh quang của Tổ quốc trên nước Đức giải phóng. Sau đó bác Tôn đã cử 2 đại biểu là bác sỹ Nguyễn Tấn Gi Trọng và nhà thơ Xuân Diệu thay mặt phái đoàn đến thăm Tiểu đoàn Việt Nam ở Đức. 
      Từ khi được bầu làm Chủ tịch Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bác Tôn đã đóng góp ý kiến cho các chính sách của Đảng và Chính phủ, góp sức chi viện cho cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam như: Thành lập Đài phát thanh Tiếng nói Nam bộ Kháng chiến tại Quảng Ngãi tháng 6.1946; Thành lập Phân cục trưởng Lục quân Trần Quốc Tuấn đào tạo cán bộ chỉ huy cho miền Nam tại Quảng Ngãi; Lập phòng liên lạc Nam Bắc đóng tại La Hay Phú Yên có chức năng đưa các lực lượng vũ trang vào tham gia chiến trường miền Nam, đón các chiến sỹ và cán bộ miền Nam ra học tập chính trị và quân sự để trở vào Nam chiến đấu. Bắt đầu từ lúc này tôi phải tạm xa Bác để làm nhiệm vụ chính trong Ủy ban Kháng chiến miền Nam.

Huỳnh Văn Tiểng
ĐBQH Khóa I đến Khóa V
  
Gửi bài này Bản in

 BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
HCM1.jpg
Trang chủ | Liên hệ | Quảng cáo | Giới thiệu