Tin, bài mới nhận:  
Chủ Nhật, ngày 01/08/2010   
 
 THÔNG TIN CẦN BIẾT
 TÒA SOẠN CỦA BẠN

bannertoasoan.jpg

VN tụt hạng cạnh tranh một phần vì chất lượng GDĐH
06/11/2008
Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã công bố Kết quả xếp hạng khả năng cạnh tranh toàn cầu 2008. Theo đó, so với năm ngoái, VN tụt hai bậc, từ 68 xuống 70. Trong cuộc khảo sát ý kiến các chuyên gia về “vấn đề đáng lo ngại nhất” của VN, 3 yếu tố được quan tâm là lạm phát, hạ tầng và lao động có trình độ. Đối với yếu tố lao động có trình độ thì lỗi chính thuộc về giáo dục đại học (GDĐH).

      Chất lượng giáo dục – “vũng lõm” của VN
      Như thường lệ, Báo cáo vẫn dựa trên những số liệu thống kê được công bố và những khảo sát ý kiến chuyên gia. Trên cơ sở đó, WEF cho điểm và xếp hạng các nền kinh tế theo năng lực cạnh tranh. Việc xếp hạng được căn cứ theo chấm điểm 3 nhóm yếu tố: các yếu tố căn bản, các yếu tố nâng cao và các yếu tố sáng tạo. Ba nhóm này bao gồm 12 “trụ cột” của năng lực cạnh tranh. Nhóm 1 gồm 4 yếu tố căn bản: các định chế cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục phổ thông. Yếu tố y tế và giáo dục phổ thông của Việt Nam xếp thứ 84 với điểm số là 5,3. Tại nhóm 2, yếu tố cải thiện hiệu quả thì đào tạo và giáo dục đại học xếp tận thứ 98 với mức điểm quá khiêm tốn: 3,9. Ngoài ra, trong số 109 tiêu chí chi tiết để đánh giá cho điểm và xếp hạng, Việt Nam có 22 yếu tố xếp hạng 100 hoặc thấp hơn, trong đó giáo dục chiếm 5/22 yếu tố, gồm chất lượng quản lý trường xếp hạng thứ 120, chất lượng của hệ thống giáo dục xếp hạng 120, phổ cập giáo dục THPT xếp hạng thứ 103, phổ cập giáo dục THCS xếp hạng thứ 100, chỉ tiêu cho giáo dục xếp hạng 100.
Tuy nhiên, Báo cáo cũng đánh giá 3 điểm mạnh của Việt Nam là ổn định vĩ mô, y tế - giáo dục tiểu học và quy mô của thị trường. Nhưng WEF vẫn chỉ ra một thực tế đáng buồn không thể phủ nhận là Việt Nam còn 3 “vùng lõm”: cơ sở hạ tầng, mức độ sẵn sàng cho công nghệ, đào tạo và GDĐH.
      Giáo dục đại học còn nhiều thách thức

      Theo Kết quả xếp hạng khả năng cạnh tranh toàn cầu của WEF, ví trí của Việt Nam trong 3 năm qua là hạng 64 (năm 2006), hạng 68 (năm 2007) và hạng 70 (năm 2008). Nếu không xét các nước mới bổ sung danh sách thì Việt Nam chỉ tụt 1 bậc. Các đối tác trong nước tham gia cùng WEF thực hiện bản báo cáo năm nay là Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế T.Ư và Viện Kinh tế TP Hồ Chí Minh. Dù vậy, trong số các nước Đông Á được xếp hạng, Việt Nam chỉ đứng trên Philippines và Campuchia. Lào và Myanmar chưa có tên trong danh sách này.

      Theo thống kê của Vụ ĐH và Sau ĐH, tính đến tháng 8.2008, cả nước có 369 trường ĐH, CĐ, trong đó có 160 trường ĐH và 209 trường CĐ với quy mô hơn 1,6 triệu sinh viên (của tất cả các hệ đào tạo), đạt 188 sinh viên/vạn dân. Giai đoạn từ năm 1998-2004, cả nước chỉ mới thành lập 3 trường ĐH và 3 trường CĐ dân lập, tư thục, 25 trường CĐ nâng cấp lên ĐH và 15 trường TCCN nâng cấp thành CĐ. Nhưng chỉ trong vòng 3 năm, 2005 - 2008, số trường ĐH được thành lập lên đến 20 trường, trong đó có 1 trường công lập và 19 trường ĐH tư thục (chiếm tỷ lệ 95%). Cũng tính từ năm 2005 đến nay, theo yêu cầu của các bộ, ngành, địa phương, Bộ GD-ĐT đã nâng cấp 28 trường CĐ lên ĐH, 86 trường TCCN lên CĐ. Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã thẳng thắn đưa ra nhận định về hệ thống các trường ĐH, CĐ được thành lập từ năm 1998 đến nay: “Nhu cầu người học tăng nhưng chất lượng cũng gây lo lắng cho khá nhiều người. Vì thế cần làm rõ, cơ hội nào để vừa phát triển các trường ĐH, CĐ vừa phải tăng chất lượng. Nếu không trả lời được thì chắc chắn sẽ không nhận được sự đồng tình của xã hội”.
      Thực tế, với tốc độ mỗi tháng “đẻ” ra gần… 2 trường ĐH trong cuộc “chạy đua” để được mở trường ĐH, đã có không ít trường liều lĩnh “khai man”, không ít trường chấp nhận cả điều kiện giáo viên thiếu và yếu, cơ sở vật chất tồi tàn để cố tuyển sinh…
      Cuối năm 2006, Bộ GD-ĐT đã mở một số cuộc hội thảo lớn với chủ đề Hội nhập WTO và những thách thức của giáo dục ĐH Việt Nam. Tiếp đó là các cuộc hội thảo liên tục về đào tạo theo nhu cầu xã hội. Rất nhiều quyết tâm đã được đưa ra, nhưng đã gần 2 năm trôi qua, nhìn nhận giáo dục ĐH Việt Nam, những người làm công tác quản lý của ngành Giáo dục chỉ có thể nhận xét rằng: việc đổi mới phương pháp giảng dạy và tăng cường công tác nghiên cứu khoa học còn chậm và chưa quyết liệt. Các văn bản thỏa thuận đã được ký kết các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp tại các hội thảo quốc gia đào tạo nhận lực theo nhu cầu xã hội triển khai còn chậm, hiệu quả chưa cao, thiếu cơ chế giám sát; Cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị thí nghiệm, thư viện, giáo trình, tài liệu… còn thiếu thốn và lạc hậu…
      Giáo dục ĐH rõ ràng đã đến lúc cần lắm một sức sống mới, mãnh liệt hơn để góp phần đưa việt Nam phát triển trên chặn đường cạnh tranh và hội nhập.

Hiếu Minh
  
Gửi bài này Bản in

 BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
HCM1.jpg
Trang chủ | Liên hệ | Quảng cáo | Giới thiệu