
Nhà thơ Vân Long: - Hà Nội là trung tâm văn hoá cả nước, chúng tôi không muốn Rằm tháng Giêng chỉ là lễ hội Thơ, mà nên là dịp để công chúng gần lại và mở rộng tầm nhìn với Thơ, nhất là với những dạng thơ tìm tòi cách tân. Lâu nay, ngay trong giới thơ cũng bị phân hoá hóa về nhận thức, gây ra những hiểu nhầm tác giả như trường hợp một số bài báo phản ứng bài thơ của Phan Thị Vàng Anh..., một số người coi thơ cách tân, thơ hiện đại như trò đánh đố chữ...
- Vấn đề nhận thức là cả một quá trình, ta có thể làm gì chỉ trong ngày hôm đó?
- Đúng vậy! Câu hỏi đó cũng lởn vởn trong chúng tôi từ Ngày Thơ năm ngoái. Vừa đúng lúc, cuối năm 2007 một cuốn sách của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến được xuất bản: Thơ Việt Nam tìm tòi & cách tân, 1975-2005 (NXB Hội Nhà văn – Công ty Văn hóa Trí tuệ Việt). Một câu hỏi bật ra: Sao chúng ta không tổ chức tọa đàm về cuốn này? Chủ đề Thơ với sự tìm tòi và cách tân đã tìm được điểm tựa, điểm quy tụ cho một cuộc tọa đàm Thơ, đặt vấn đề tuy rộng mà không bị lan man.
- Xin ông cho biết vài nét về cuốn sách này?
- Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến từng được nhiều giải thưởng Thơ, ông có công phu ghi nhận những nét sáng tạo làm mới thơ Việt ở nhiều nhà thơ đủ các thế hệ, nhưng đặc biệt nhấn mạnh đến thơ xuất hiện trong 30 năm vừa qua (kể cả những tìm tòi cách tân từ trước 1975, nhưng đến thời kỳ đổi mới, mới có điều kiện xuất bản cũng được nhắc đến). Do vậy, diện bao quát là khá rộng, điểm mặt đủ các xu hướng đổi mới thơ Việt: Từ Trần Dần, Đặng Đình Hưng đến Thanh Thảo, Hoàng Hưng, Nguyễn Lương Ngọc... cho đến những người trẻ như Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, rất trẻ như Trương Quế Chi. Cả thảy 45 gương mặt thơ. Thiện chí của tác giả rất rõ trong lời nói đầu: “...cái khó khăn lớn nhất của việc mở đường, khai phá miếng đất mới cho thi ca đã được các nhà thơ làm rồi, còn việc giới thiệu, cổ vũ, luận bàn về cái mới ấy, chúng ta lại cứ e dè, xét nét ngẫm ngợi mãi sao? ”.
- Hình như nhu cầu đổi mới thơ chỉ xuất hiện khi nhà thơ còn trẻ?
- Tôi không nghĩ thế, nhu cầu đổi mới không phụ thuộc vào tuổi, mà vào phẩm chất nghệ sĩ. Nghệ sĩ đích thực không bao giờ muốn dậm chân tại chỗ, đi mãi trên lối mòn. Nhà thơ Lê Đạt khi cao tuổi đổi mới thơ mạnh mẽ hơn hồi ông còn trẻ. Chặng đường cuối của nhà thơ Phạm Hổ, chữ nghĩa, suy tưởng, tôi cho là mới mẻ hơn bước đi đầu đời của ông. Nhưng Nguyễn Việt Chiến thì tập trung vào giới trẻ xuất hiện sau thế hệ thơ chống Mỹ, nên ta cũng hiểu thêm nhu cầu của lớp nhà thơ này: Tuyên ngôn của Nguyễn Lương Ngọc khá bộc trực: Khi mắt đã no nê/ Những quy tắc lên men/ Khi sự thật bị thay bằng cái giống như sự thật/ Có gì không ổn/ Có gì như bệnh tật/ Khi mồ hôi vẫn ê a thiên chức nghệ sĩ….”. Từ sự tự chán mình, tự nhạo mình (như Phan Thị Vàng Anh tự nhạo: Những 6 cùng 8 cùng nhau dặt dìu ru ngủ: Tôi có tài. Tôi có tài…) Nguyễn Lương Ngọc quyết liệt: Chính nước mắt hay máu tứa từ cái nhìn bền bỉ/ Đã cho anh chiếc lăng kính này đây/ Để anh đủ sức đập vụn mình ra mà ghép lại/ Nung chảy mình ra mà tìm lõi/ Xé toang mình ra mà kết cấu! (Hội họa lập thể). Đoàn Mạnh Phương từ tốn ở giọng điệu, nhưng lên án sự cũ mòn trí tuệ hơn: …Và thay đi những ý nghĩ chờn ren/ chối bỏ những dấu chân đồng dạng/ cùng tư duy của loài ốc mượn hồn (Nối tiếp).
- Thưa ông, ông thuộc nhà thơ thế hệ chống Mỹ, nhưng lại có thâm niên đến 6 thập kỷ làm thơ, điều này có trở ngại đến sự tiếp nhận cách tân của ông ở thế hệ trẻ?
- Sức sáng tạo của nhà thơ với nhận thức thơ có một khoảng cách: Không phải anh chưa cách tân mà anh không nhận thức được cái hay của thơ cách tân. Nhưng quả là thói quen thẩm mỹ giai đoạn cũ (vần điệu lưu xướng và tư duy tuyến tính, đơn nghĩa, đuổi theo thực hiện một ý có sẵn) gây trở ngại cho tiếp nhận. May thay, thơ cách tân có nhiều dạng ở nhiều cấp độ có thể đáp ứng với xu hướng thẩm mỹ của mỗi người. Giống như kiểu ăn “buýp phê” còn chưa quen với nhiều người Việt, nhưng với ba bốn chục món bày ra, người khó tính nhất cũng có thể chọn dăm bảy món mình thích. Ngay với một nhà thơ mình tán thành về khuynh hướng, nhưng không phải bài nào, câu nào mình cũng chấp nhận. Thí dụ với Nguyễn Quang Thiều, tôi thích Những rễ cây đang ân ái dưới đất nâu/ Sự ân ái phì nhiêu và rụng lá, nhưng khi nhà thơ nhân hóa rễ cây đến mức Những rễ cây chộp lấy tôi và nghiến tôi thành nước thì tôi lại thấy nó xa lạ với thẩm mỹ phương Đông. Tôi vốn chưa khoái thơ Nguyễn Bình Phương, đọc nhiều gây mệt mỏi vì anh đưa ta sang một miền thẩm mỹ khác với đời sống thực tế quanh ta. Nhưng những câu thơ này về Huế lại rất hay: Gặp con ngõ nhỏ/ Phượng đỏ bắc cầu/ Tím ngả sang nâu/ Ngả từ thao thức vào u vắng/ Trăm năm Huế ngực vẫn tròn và trắng/ Lụa còn bay cuồn cuộn như rồng. Tác giả nhận thức Huế bằng những ấn tượng, cảm quan riêng của mình. Đoạn thơ này có số chữ tương đương một bài tứ tuyệt, nhưng “năng lượng thơ” giàu có về màu sắc, âm thanh, cảm giác về một Huế tinh khôi và huyền ảo, nếu Nguyễn Bình Phương viết dưới hình thức một bài thơ tứ tuyệt với cách tư duy tuyến tính như nhiều người khác thì hiệu quả bài thơ hẳn không được như vậy!
- Thưa ông, nếu hỏi ông về sự chuyển động hai vùng thơ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thì rộng quá. Nhưng với vùng thơ Hải Phòng, được biết ông từng có mười năm gắn bó với thành phố cảng để có những câu thơ viết từ ba mươi năm mà chưa thấy… cũ: Bạn bè của tôi ở đấy/ Mỗi thằng một dạng lo toan/ Lật trang sách tiếng cá quẫy/ Đêm rơi đầy chiếc gạt tàn (Vào tranh). Ông thấy sự chuyển động của vùng thơ đó ra sao, hiện nay?
- Nổi nhất là Thi Hoàng, anh hấp dẫn người đọc ở những ý tưởng lạ và cách nói ngược thông minh, câu chữ khơi gợi tài hoa: Hoa sen không định thơm/ Không định thơm thì mới thơm như thế/... Không có hương sen thì trời sẽ sập/ Không có hương sen thì ta thối nát/ Song, đấy là điều không dễ có ai tin! (Ngưỡng mộ hoa sen). Đó là nhà thơ tiêu biểu của thế hệ chống Mỹ Hải Phòng, sau chiến tranh ông phải “tu luyện” đổi mới thứ vũ khí sở trường để Giải thưởng thơ Hội Nhà văn (1996) và Giải thưởng Nhà nước (2007) của ông vẫn được thế hệ trẻ chấp nhận. Khi tôi ở Hải Phòng, Dư Thị Hoàn là Vương Oanh Nhi, học sinh lớp 9 trường Kiều Trung vì cô là người Hoa 100%, vì bị mê hoặc bởi giờ giảng văn truyện Kiều của nhà thơ, thầy giáo Trịnh Hoài Giang mà sau thành vợ thâçy. Khi làm thơ, thơ cô hiện đại hơn thầy. Đây là hiện tượng đặc biệt đáng cho ta suy ngẫm! Dư Thị Hoàn quen gợi mở những vấn đề nhân sinh, như Bài mẫu giáo sáng thế, Đi lễ chùa. Tính hiện đại của hai nhà thơ Thi Hoàng và Dư Thị Hoàn không nằm trong hệ thơ ngôn ngữ (language poetry) như Lê Đạt, Dương Tường làm nhiều người khó hiểu. Hải Phòng còn một Mai Văn Phấn, từng được nhiều giải thưởng thơ thời kỳ thơ anh rất trong sáng. Nhưng sự trong sáng lại gần đường biên của dễ dãi, nông cạn. Có lẽ nghĩ vậy, nên anh chuyên tâm nghiên cứu thơ thế giới, tìm cách đổi mới thơ mình. Thời kỳ đầu cách tân, hầu như anh mất nhiều độc giả bởi những tư duy, liên tưởng rắc rối, thơ rất khó hiểu. Đến nay, anh đang lấy lại sự trung hòa giữa hai cực, và phần thưởng là lớp độc giả mới thời @ đã chấp nhận anh... Hải Phòng là một vùng biển thơ không chịu yên tĩnh như vậy! Cũng là một vùng khá tiêu biểu cho sự vận động thơ của cả nước! Các nhà thơ lớp trước, lớp sau giao hòa nhau, làm giàu cho sự đa dạng của thơ đương đại. Tôi không dùng thơ hiện đại, trước đây không dám dùng vì sợ nó mới quá, nhiều nhà thơ, bài thơ chưa xứng gọi là thơ hiện đại. Nhưng nay đã có khái niệm thơ hậu hiện đại, vậy thơ hiện đại đã thành cũ, chưa kịp mới đã cũ, như số phận các trào lưu của Thơ vậy! Xin tạm dùng chữ như Nguyễn Việt Chiến: Sự tìm tòi và cách tân của thơ Việt Nam! Tôi biết bạn muốn tìm hiểu tôi đang đứng ở chặng nào trong tiến trình đổi mới đó. Có lẽ nên dùng một thí dụ thơ để trả lời: Nhà thơ Trúc Thông đến Paris để có câu thơ về Mẹ: Bà đã đem tấm thân mỏng gầy/ lấp đầy khổ ải/ cho đến mùa hoa rợp các con (Những thoáng Paris) hoặc nét duy mỹ trong trẻo, kiệm lời như Lê Đạt: Anh đến mùa thu nhà em/ Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ/ Mà cho đấy rửa lông mày/ Nông nỗi heo may từ đó! (Thu nhà em). Nghĩa là có sự chung thủy cội nguồn mà không cũ kỹ, khơi gợi mỹ cảm mà không sáo rỗng. Tôi đi cùng hướng với hai nhà thơ này, nhưng vẫn trân trọng những sự bứt phá chung quanh!
- Nhận xét khái quát về cuốn Thơ Việt Nam tìm tòi & cách tân, ông thấy ưu điểm, nhược điểm của cuốn này là gì?
- Dù chất lượng ra sao, Nguyễn Việt Chiến vẫn là người đầu tiên xuất bản cuốn sách bước đầu nghiên cứu về sự cách tân thơ Việt trong giai đoạn 1975-2005, khi các nhà lý luận phê bình chuyên nghiệp còn dè dặt. Ông tự nhận mình bình thơ ít mà trích thơ nhiều, có nghĩa công phu sưu tầm, chọn lựa tác phẩm tiêu biểu của từng tác giả, nhận ra đặc điểm cách tân của từng người là chủ yếu. Ưu điểm lớn nhất của ông là biết trân trọng tìm hiểu mọi giá trị của sự tìm tòi cách tân.
- Xin cám ơn nhà thơ!
Vân Đình Hùng thực hiện