
Cho tới nay, Iran chưa đưa ra lập trường chính thức về cuộc xung đột giữa Nga và Gruzia tại khu vực Nam Ossetia. Phản ứng của Iran chỉ giới hạn trong một cuộc điện đàm giữa Ngoại trưởng Manouchehr Mottaki với Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov. Phát biểu của ông Mottaki cũng chỉ dừng lại ở mức độ chung chung, bày tỏ mong muốn cuộc xung đột tại Nam Ossetia sẽ sớm chấm dứt vì lợi ích hòa bình và ổn định trong khu vực. Trong những ngày qua, báo chí Iran cũng không đưa nhiều về cuộc xung đột này, và đặc biệt, chẳng có bài bình luận xung quanh nó.
Sự im hơi lặng tiếng này nói lên điều gì?
Từ trước tới nay, Tehran và Moscow luôn thể hiện sự đoàn kết trong việc chống lại sự bành trướng của NATO. Tất nhiên, Iran hiểu rằng hành động quân sự của Nga tại Nam Ossetia không chỉ nhằm bảo vệ lực lượng gìn giữ hòa bình Nga, bảo vệ người dân Nam Ossetia (như Nga nói), mà còn là một đòn cảnh cáo đối với nỗ lực gia nhập NATO của Gruzia và là một đòn giáng mạnh vào tiến trình Đông tiến của NATO. Người ta đã gọi xung đột tại Nam Ossetia là xung đột Đông – Tây, khi Moscow không ngừng cảnh báo kế hoạch mở rộng NATO sẽ gây bất ổn cho châu Âu. Hơn nữa, quyết định của Nga đưa quân đến Nam Ossetia cũng được Iran coi là hành động cảnh cáo những nước ủng hộ kế hoạch lá chắn tên lửa Mỹ, cũng là những nước đồng ý với lập luận của Mỹ coi Iran là một mối đe doạ an ninh. Về điểm này, Iran càng có lý do để ủng hộ chiến dịch quân sự của Moscow.

Thế nhưng, Iran không thể làm được nhiều hơn những lời kêu gọi hòa bình chung chung, bởi Gruzia là nước láng giềng, gần gũi với Iran cả về địa lý lẫn toan tính chính trị quan trọng. Gruzia có thể trở thành cầu nối để Iran đưa dầu khí ra thị trường thế giới. Có lập trường chung với Nga trong nhiều hồ sơ quốc tế, nhưng Tehran cũng có những lợi ích riêng với Tbilisi trong quan hệ song phương. Hơn nữa, nhìn lại quá khứ, Iran và Gruzia từng có mối quan hệ chặt chẽ về lãnh thổ. Iran chiếm đóng Gruzia suốt gần 400 năm cho đến khi thua trận trước đội quân hùng mạnh của nước Nga thời Sa Hoàng vào đầu thế kỷ 19. Trận thua này đã dẫn đến việc Nga và Iran ký kết các Hiệp ước Gulistan năm 1813 và Turkmanchai năm 1828. Nhờ các hiệp ước này, 1/3 lãnh thổ Iran thuộc về Nga, trong đó có Gruzia và Armenia.
Iran cũng lo ngại rằng, cuộc xung đột tại Nam Ossetia, hay nói đúng hơn là xung đột giữa các hệ quan điểm Đông – Tây, có thể không chỉ dừng lại ở khu vực Kavkaz mà có thể lan sang khu vực Trung Á và Caspi. Đối với Iran, nguy cơ này chứa đựng nhiều yếu tố tiêu cực hơn là tích cực, nó mang đến cả nguy cơ lẫn thời cơ. Giả sử xung đột leo thang, phương Tây có thể tạm quên đi những tranh cãi xung quanh chương trình hạt nhân của Iran. Nhưng sau khi dứt tiếng súng, Iran phải trở lại với một thực tế là Israel và Mỹ đe doạ tấn công quân sự, và nguy đó có thể lớn hơn sau chiến sự tại Nam Ossetia.
Dưới thời Tổng thống Mohammad Khatami, Iran tỏ ra sẵn sàng đảm nhận vai trò hòa giải trong cuộc khủng hoảng Chesnia. Vai trò này đòi hỏi không chỉ kỹ năng đàm phán mà nhà trung gian hòa giải phải có mối quan hệ khá thuận lợi với cả hai bên. Trong trường hợp Nam Ossetia, Tehran dường như có lợi thế về địa lý và thái độ trung lập với cả hai bên. Nhưng Iran lại không hề lên tiếng, mà chọn cho mình phương thức “ngoại giao im lặng”, vì họ hiểu rằng cái được trước mắt của Iran có thể không nhiều hơn những mất mát về lâu dài.