
Khi Thủ tướng nước Phổ Otto von Bismarck đưa ra chính sách hưu trí cho người hơn 70 tuổi vào năm 1889, độ tuổi trung bình của người dân nước Phổ lúc ấy mới chỉ 45 tuổi. Năm 1908, khi Thủ tướng Lloyd George vận động trả lương 5 shiling/tuần cho công nhân nghèo tuổi trên 70, dân Anh, đặc biệt là người nghèo, phải may mắn lắm mới có thể sống được trên 50 tuổi. Đến năm 1935, khi người Mỹ xây dựng hệ thống an sinh xã hội, độ tuổi về hưu chính thức khi đó là 65, cao hơn 3 năm so với tuổi thọ trung bình của người Mỹ.
Tuy nhiên hiện tại, tuổi thọ của con người trên khắp thế giới đã được nâng lên và họ sống thêm nhiều năm sau độ tuổi về hưu. Tại một số nước châu âu, trung bình người dân sống thêm 25 năm kể từ khi về hưu. Tại Mỹ, độ tuổi về hưu chính thức là 66, nhưng tuổi thọ trung bình của họ sau khi về hưu cũng lên tới 16 năm. Ở quốc gia này, cứ 1 thập kỷ trôi qua, tuổi thọ lại tăng thêm từ 2 đến 3 tuổi, bất chấp những dự đoán trước đó rằng tuổi thọ của người dân Mỹ đã đạt tới “giới hạn”. Cụ thể, nếu trước đây ở Mỹ, số người sống hơn 100 tuổi rất ít, thì đến nay đã có tới 100 nghìn người thọ trên 100 tuổi ở đây. Đến cuối thế kỷ 21, con số này sẽ còn tăng cao hơn nữa. Trong khi đó, số liệu thống kê về các nước thành viên của Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD) mới đây cho biết, nếu như năm 1950, cứ 7 người trong nhóm độ tuổi từ 20 đến 64 mới có 1 người hơn 65 tuổi, thì hiện nay tỷ lệ này đã là 4/1 và nhiều khả năng sẽ lên mức 2/1 vào năm 2050.
Có 2 nguyên nhân chính khiến lượng dân số già trên thế giới tăng nhanh. Trước hết đó là vì phần lớn phụ nữ ở các nước phát triển không sinh đẻ nhiều. Thứ hai, thế hệ dân cư sinh sau Chiến tranh Thế giới thứ II, năm nay đã ở độ tuổi hơn 60, ngưỡng tuổi về hưu. Điều này tạo ra “khoảng trống” đáng kể cho kinh tế thế giới khi dẫn tới nguy cơ thiếu hụt lực lượng lao động “dự trữ” cho tương lai.
Nước Anh là một ví dụ. Tại xứ sở sương mù, hơn 65% số nữ y tá lành nghề hiện nay ở độ tuổi hơn 40, 1/2 trong số đó ở độ tuổi trên 50, ngưỡng cửa chuẩn bị tuổi nghỉ hưu. Trong khi đó, nhu cầu việc làm cho ngành nghề này đang tăng nhanh. Riêng trong tháng 4.2009, nước Anh cần tới 4000 việc làm mới trong ngành y tá-điều dưỡng, tăng nhiều lần so với cùng kỳ năm 2008. Như vậy, ước tính trong một vài năm tới, khi thị trường cần thêm đội ngũ y tá, chắc chắn ngành nghề này sẽ thiếu hụt nghiêm trọng.
Một điểm đáng lưu ý nữa là chi phí cho các quỹ hưu trí. Thống kê cho thấy mức chi trung bình của các quỹ hưu trí thuộc OECD vào khoảng 7% GDP (năm 1935, mức này chỉ tương đương 0,2% GDP). Tại một số quốc gia, mức chi tiêu trên có thể gấp đôi vào năm 2050, đó là chưa kể đến số tiền dành cho các quỹ hưu trí tư nhân, y tế và chăm sóc sức khoẻ dài hạn.
Cũng có ý kiến cho rằng, thiếu hụt lao động có thể giải quyết bằng nguồn lao động nhập cư. Tuy nhiên, dù đồng ý với phương án này, các chuyên gia vẫn phải thừa nhận một thực tế rằng: lao động nhập cư không phải là giải pháp lâu dài khi nguồn cung này còn rất nhiều vấn đề phải bàn. Trong đó phải tính đến các yếu tố chủng tộc, tôn giáo, chất lượng lao động…
Những nguyên nhân này buộc các nền kinh tế phát triển phải tính đến những giải pháp khác. Sử dụng độ tuổi lao động như thế nào cho hợp lý, và nên chăng cần tận dụng nguồn chất xám của người về hưu? Tại Nhật, người lao động vẫn tận dụng cơ hội làm việc, nhiều người vẫn đi làm dù họ đã ở tuổi 60 và thậm chí đã 70 tuổi. Tại Anh, một số hãng bán lẻ như Wal-Mart B&Q hay McDonald đã bắt đầu tuyển dụng lao động lớn tuổi vì cho rằng thái độ tận tình, kinh nghiệm của người cao tuổi là lợi thế được khách hàng đáng giá cao. Còn tại Đức, do thiếu lao động chất lượng cao, người lao động lớn tuổi cũng có thêm nhiều cơ hội. Năm ngoái, một số công ty Đức đã tuyển dụng lại các kỹ sư cao tuổi. Theo tờ Financial Times, sở dĩ nhiều người già muốn làm việc vì không thích “ăn không ngồi rồi” và muốn có thêm lương hưu.
Thực tế cho thấy, để giải bài toán khó về lao động, các công ty, tập đoàn buộc phải thích nghi với điều kiện hiện nay, cũng như xoá bỏ bớt những định kiến trong việc sử dụng lao động. Sự chuyển hướng trong chính sách lao động, cụ thể như điều chỉnh chính sách sử dụng lao động nhập cư, tiết kiệm chi phí, sửa đổi độ tuổi về hưu có thể sẽ là những giải pháp tốt để giải quyết bài toán “dân số già”, từ đó giữ vững ổn định kinh tế.
(Theo The Economist, Nursing Standard)