Cần cụ thể hóa chính sách tiền tệ quốc gia
Đóng góp ý kiến vào dự thảo luật lần này, TS. Lê Thị Thu Thuỷ - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội lưu ý: Về chính sách tiền tệ quốc gia, Điều 4 Dự thảo luật chỉ đưa ra được mục đích của chính sách mà chưa nêu được nội dung của chính sách này là gì, khác gì so với các chính sách khác như đầu tư chứng khoán, bảo hiểm. Bản thân chính sách tiền tệ quốc gia được hợp thành những loại chính sách như thế nào chưa rõ. Ai xây dựng chính sách này cũng không có quy định cụ thể.
Đặc biệt, dự luật chưa có sự đồng nhất trong quy định về thẩm quyền của Chính phủ và Ngân hàng Trung ương đối với việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia. Điều 5 Khoản 2 dự luật qui định: Chính phủ quyết định mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ quốc gia nhằm định hướng chỉ tiêu lạm phát hàng năm. Nhưng khoản 3 Điều 5 lại quy định: NHNN Việt Nam chủ động sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ và các giải pháp khác để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Ở đây cần nhận thấy rằng, điều hành chính sách tiền tệ quốc gia trong mỗi giai đoạn cần được đảm bảo bởi những công cụ nhất định và chỉ có Ngân hàng Trung ương mới am hiểu nhất về lĩnh vực này và hoàn toàn chủ động trong việc sử dụng các công cụ đó. Thêm vào đó, mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ quốc gia trong các thời kỳ khác nhau liên quan mật thiết với việc sử dụng các công cụ đó. Vì vậy, “nên trao thẩm quyền cho Ngân hàng Trung ương trong việc quyết định mục tiêu và sử dụng các công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia ”- bà Thủy đề xuất.
Về hoạt động tái cấp vốn của NHNN, dự luật đã có sự mở rộng đối tượng được cấp (cho cả các tổ chức tín dụng khác không phải là ngân hàng). Điều này đảm bảo sự bình đẳng giữa các loại hình tổ chức tín dụng trong việc tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng “mẹ” khi cần thiết. Tuy nhiên, dự luật không quy định cụ thể về tái cấp vốn cho các tổ chức tín dụng này và cũng không quy định về thẩm quyền của Chính phủ hướng dẫn. Theo đánh giá của bà Thủy, quy định như vậy mang tính chất “nửa vời”, vừa cho, vừa không và không có hướng dẫn cụ thể thì quy định này chỉ là trên “giấy”, không thể đi vào cuộc sống.
Về góp vốn, mua cổ phần của NHNN Việt Nam: có thể nói việc mở rộng hoạt động của NHNN Việt Nam đối với hoạt động này xuất phát từ thực trạng khủng hoảng ngân hàng ở Mỹ, lan toả sang các nước châu âu trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, mục tiêu hoạt động của NHNN Việt Nam là phi lợi nhuận. Đây là cơ quan quản lý về hoạt động ngân hàng. Trong khi đó, việc góp vốn, mua cổ phần là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Do vậy, nhiều ý kiến cho rằng: Luật nên có quy định cụ thể hơn về hoạt động này, ví dụ nên đưa ra một tỷ lệ nhất định để góp vốn, thành lập doanh nghiệp và cơ chế kiểm soát nguồn vốn đầu tư…
Liên quan đến việc xác định phạm vi nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung ương tại Điều 19 dự luật, Văn phòng Luật sư Bizlink cho rằng: Cần thiết đưa ra nguyên tắc để xác định phạm vi của nghiệp vụ thị trường mở mà NHNN thực hiện, chẳng hạn như NHNN có thể trực tiếp bán trái phiếu hoặc giấy tờ có giá khác ra công chúng (không thông qua các tổ chức tín dụng) không? Theo Bizlink, thì nên quy định: “NHNN không thực hiện việc mua bán giấy tờ có giá trực tiếp ra công chúng, trừ trường hợp đặc biệt được Chính phủ chấp thuận.”
Ngân hàng Nhà nước độc lập đến mức nào?
Một vấn đề nữa được đông đảo luật gia quan tâm là quy định về cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng được quy định tại Khoản 1 Điều 58 của dự thảo luật. Theo Luật gia Vũ Xuân Tiền - Tổng giám đốc Công ty CP Tư vấn quản lý và đào tạo VFAM Việt Nam, nếu cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng là cơ cấu tổ chức của NHNN thì hoạt động của chính NHNN ai sẽ thanh tra, giám sát? Có hay không tình trạng vừa đá bóng, vừa thổi còi với quy định này? Vì vậy, ông Tiền đề nghị có thêm một điều khoản quy định về quan hệ giữa NHNN với Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.
Cùng với nhiều ý kiến khác, ông Tiền cho rằng Việt Nam nên theo thông lệ quốc tế, cần tạo một Ngân hàng Trung ương độc lập tương đối với Chính phủ. Theo ông Tiền, Trung Quốc đã cho Ngân hàng Trung ương độc lập về mặt tổ chức, ngân sách và nhân sự với chính phủ. Thậm chí Trung Quốc cấm Ngân hàng Trung ương bảo lãnh các khoản vay của Nhà nước hoặc cho chính quyền các địa phương vay tiền nhằm kiểm soát tốt lạm phát, đảm bảo cân đối vĩ mô và tránh chi tiêu lãng phí...
Trong khi đó, dự luật lại quy định NHNN nước có trách nhiệm tạm ứng cho ngân sách nhà nước, trong trường hợp không thanh toán được thì Bộ Tài chính báo cáo UBTVQH quyết định... Theo ông Tiền, việc này là không nên, sẽ tạo sự dễ dãi trong huy động, chi tiêu của Chính phủ. Vì vậy, nên quy định Chính phủ cần thì phải vay và đã vay thì phải trả để đảm bảo sự lành mạnh của đồng tiền.