Tin, bài mới nhận:  
Thứ Bẩy, ngày 31/07/2010   
 
 THÔNG TIN CẦN BIẾT
 TÒA SOẠN CỦA BẠN

bannertoasoan.jpg

Cần quy định rõ hơn chính sách đối với người cao tuổi
15/10/2009
Nhằm quy định cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ của người cao tuổi; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi... Dự thảo Luật Người cao tuổi với 7 chương, 30 điều đã được đưa ra lấy ý kiến các đối tượng hữu quan và nhân dân, trước khi trình QH xem xét, thông qua tại kỳ họp tới. Tuy nhiên, để phân định rõ ràng hơn đối tượng là người cao tuổi nói chung và đối tượng là người cao tuổi được hưởng chính sách bảo trợ xã hội của Nhà nước, cần bổ sung một số quy định phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời phù hợpvới một số đạo luật khác.

Thứ nhất, về độ tuổi xác định người cao tuổi. Theo Điều 2 của Dự Luật “Người cao tuổi là công dân Việt Nam  từ 60 tuổi trở lên”. Độ tuổi như quy định là phù hợp, tuy nhiên để thống nhất với các đạo luật khác, nên phân định độ tuổi tách biệt giữa nam và nữ. Cụ thể, đối với nam từ 60 tuổi trở lên là người cao tuổi, còn nữ là 55 tuổi. Như vậy, phù hợp với Luật Cán bộ, công chức và thống nhất với Bộ Luật Lao động hiện hành về độ tuổi nghỉ hưu, chế độ, chính sách hưu trí đối với lao động nam và lao động nữ, tạo mối quan hệ nhất quán giữa các quy định chung của Nhà nước về chính sách đãi ngộ với người cao tuổi.

Thứ hai, về đối tượng người cao tuổi được hưởng các chế độ, chính sách bảo trợ xã hội của Nhà nước. Tại khoản 1, Điều 17 Dự Luật quy định: “Chính sách bảo trợ xã hội của Nhà nước đối với người cao tuổi bao gồm:

a) Trợ cấp xã hội hàng tháng;

b) Tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc nhà xã hội tại cộng đồng;

c) Đóng bảo hiểm y tế theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế;

d) Hỗ trợ chi phí mai táng”.     

Quy định các chính sách mà người cao tuổi được hưởng như Dự Luật là hợp lý và phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, trong xã hội luôn tồn tại hai nhóm người cao tuổi, một nhóm người cao tuổi được hưởng các chế độ lương hưu, hưu trí do Nhà nước chi trả thường xuyên đến hết đời; một nhóm người cao tuổi không được hưởng các chế độ lương hưu, hưu trí do Nhà nước chi trả thường xuyên. Vì vậy, nên quy định cụ thể, phân định rõ hai nhóm người cao tuổi và về các chế độ, chính sách bảo trợ xã hội đối với họ: Quy định cụ thể những chính sách dành cho nhóm đối tượng thứ nhất, chính sách cho nhóm đối tượng thứ hai và những chính sách dành chung cho người cao tuổi. Như vậy sẽ không phải chờ Nghị định hướng dẫn sau khi Luật đã có hiệu lực thi hành. Chính phủ chỉ quy định độ tuổi (không trái với độ tuổi do Luật quy định) hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, đối với nhóm người cao tuổi không được hưởng các chế độ lương hưu, hưu trí do Nhà nước chi trả hàng tháng, hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội. Bởi như vậy, chính phủ có thể chủ động, linh hoạt quy định chế độ hưởng trợ cấp hàng tháng đối với nhóm người cao tuổi không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội và dần điều chỉnh mức trợ cấp theo hướng nâng cao các khoản phúc lợi khi nền kinh tế phát triển hơn.

Một vấn đề nữa cần xem xét, đó là quy định “hỗ trợ chi phí mai táng” là chính sách bảo trợ xã hội hay là chủ trương nhằm động viên, hỗ trợ đối với thân nhân người cao tuổi, khi người cao tuổi qua đời? Thiết nghĩ, không nên đưa việc “hỗ trợ chi phí mai táng” vào một điểm của Điều 17, vì việc này có thể xem như một sự động viên của xã hội đối với thân nhân người cao tuổi, khi  người cao tuổi  chết, chứ không phải bảo trợ xã hội đối với nhóm người cao tuổi. Có thể đưa điểm này vào Điều 19 Tổ chức tang lễ và mai táng khi người cao tuổi qua đời thì hợp lý và rõ ràng hơn.

NGUYỄN XUÂN VIỄN
  
Gửi bài này Bản in

 BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
HCM1.jpg
Trang chủ | Liên hệ | Quảng cáo | Giới thiệu